29/07/2026
Một vụ án phức tạp mà Luật sư tham gia tại phiên phúc thẩm:
TÓM TẮT TÌNH HUỐNG VỤ ÁN
Ông A và ông B là anh em ruột, mỗi người sở hữu một thửa đất liền kề nhau, ký hiệu là thửa đất A và thửa đất B.
Trong quá trình quản lý, ông B cho ông C thuê thửa đất B để sử dụng. Tuy nhiên, lợi dụng việc được giao quản lý, sử dụng đất, ông C đã tự ý lấn chiếm và sử dụng luôn một phần diện tích thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông A mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu.
Sau khi ông B qua đời, ông A từ thành phố trở về quê thì phát hiện hành vi lấn chiếm nói trên. Nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, ông A khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông C phải trả lại phần đất đã lấn chiếm, bồi thường giá trị hàng rào thép bị hư hỏng và thanh toán khoản tiền tương ứng với giá trị khai thác, sử dụng thực tế đối với phần đất đã chiếm dụng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, do không thể tiến hành định giá đối với hàng rào thép nên ông A đã tự nguyện rút yêu cầu bồi thường đối với tài sản này, chỉ giữ lại hai yêu cầu khởi kiện gồm: buộc ông C trả lại đất và thanh toán khoản tiền tương ứng với giá trị sử dụng thực tế đối với phần đất đã chiếm giữ trái pháp luật.
Sau đó, ông A qua đời. Những người thừa kế của ông A tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, tiếp tục theo đuổi các yêu cầu khởi kiện.
Đáng chú ý, trong quá trình giải quyết vụ án, ông C không những không thừa nhận hành vi lấn chiếm đất mà còn đưa ra yêu cầu phản tố, cho rằng bản thân đã bỏ chi phí để san lấp toàn bộ khu đất và yêu cầu ông A, ông B phải hoàn trả toàn bộ chi phí san lấp mặt bằng.
Để củng cố yêu cầu phản tố, ông C đưa ông D tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cho rằng ông D là người hợp tác kinh doanh với mình; toàn bộ việc san lấp mặt bằng do ông D trực tiếp thực hiện và toàn bộ chi phí san lấp cũng do ông D bỏ ra.
Tuy nhiên, chính các tài liệu có trong hồ sơ vụ án lại thể hiện một nội dung hoàn toàn khác. Theo các tài liệu này, ông D chỉ là người trông giữ xe cho ông C, không có bất kỳ tài liệu nào chứng minh giữa ông C và ông D tồn tại quan hệ hợp tác kinh doanh hoặc cùng đầu tư, cải tạo khu đất.
Không dừng lại ở đó, ông C và ông D còn đưa ra hàng loạt tình tiết mới, cho rằng họ đã trực tiếp san lấp toàn bộ diện tích đất của ông A và ông B, đồng thời xây dựng nhà tiền chế trên khu đất.
Ngược lại, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông A và ông B khẳng định các nội dung trên hoàn toàn không đúng sự thật. Theo họ, việc san lấp mặt bằng đã được ông A và ông B thực hiện từ trước khi cho ông C thuê đất; còn căn nhà tiền chế đã tồn tại từ nhiều năm trước, do người thuê trước dựng lên để kinh doanh nước giải khát và quán cà phê, hoàn toàn không phải do ông C hay ông D xây dựng.
Đặc biệt, trong suốt quá trình tố tụng, ông C và ông D không xuất trình được bất kỳ chứng cứ nào chứng minh đã thực hiện việc san lấp mặt bằng hoặc đã bỏ ra chi phí để cải tạo khu đất. Không có hợp đồng thi công, không có hóa đơn, chứng từ thanh toán, không có chứng từ mua vật liệu, không có chứng cứ về việc thuê máy móc, nhân công, cũng không có bất kỳ tài liệu khách quan nào thể hiện quá trình san lấp như họ trình bày.
Mặc dù vậy, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn nhận định có việc san lấp mặt bằng, chủ yếu căn cứ vào Chứng thư định giá tài sản xác định giá trị chi phí san lấp tại thời điểm giải quyết vụ án. Từ đó, Tòa án tuyên buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông A và ông B phải liên đới thanh toán toàn bộ giá trị chi phí san lấp cho ông D theo mức giá được xác định trong Chứng thư định giá.
Đồng thời, Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, buộc ông C phải thanh toán khoản tiền tương ứng với giá trị sử dụng thực tế đối với phần đất đã chiếm dụng trái pháp luật của ông A.
Tại Phiên Phúc thẩm:
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, Luật sư đã chỉ ra nhiều vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và nội dung của bản án sơ thẩm, làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án, gồm:
1. Xác định thiếu người tham gia tố tụng: Tòa án không đưa một người con của ông A (đã thành niên) tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
2. Thu thập chứng cứ chưa đầy đủ: Tòa án không triệu tập những người thuê đất trước để làm rõ thời điểm san lấp mặt bằng, việc xây dựng nhà tiền chế và hiện trạng khu đất, mặc dù phía nguyên đơn đã cung cấp hợp đồng thuê và đề nghị xác minh.
3. Đánh giá chứng cứ không đúng: Tòa án sử dụng Chứng thư định giá làm căn cứ xác định có hành vi san lấp mặt bằng, trong khi chứng thư chỉ phản ánh giá trị tài sản, không có giá trị chứng minh ai là người thực hiện san lấp, thời điểm san lấp hay chủ thể bỏ chi phí.
4. Xác định sai bản chất quan hệ pháp luật: Giữa ông A và ông C không tồn tại bất kỳ quan hệ hợp đồng nào. Ông C sử dụng đất của ông A là hành vi chiếm giữ, sử dụng trái phép, nên không thể mặc nhiên phát sinh quyền yêu cầu chủ sử dụng đất hoàn trả chi phí đầu tư nếu không có căn cứ pháp luật và chứng cứ chứng minh.
5. Chưa làm rõ tư cách tố tụng của ông D: Ông C là người đưa ra yêu cầu phản tố nhưng lại ủy quyền cho ông D tham gia tố tụng. Tòa án chưa làm rõ ông D tham gia với tư cách người đại diện hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền tài sản độc lập, nhưng vẫn tuyên buộc các đương sự thanh toán tiền trực tiếp cho ông D, dẫn đến việc xác định không đúng chủ thể có quyền.
Những vi phạm trên đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giải quyết vụ án, không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm. Trên cơ sở các lập luận và đề nghị của Luật sư, Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.