13/08/2021
BÁO HIẾU
( Chùa Từ Đức, ngày 11.08.2021)
Ai cũng thương cha mẹ, thương người thân thương mọi người.
Thương cha mẹ là cái gì tự nhiên, như khát thì uống. Người Việt hiểu hiếu là như vậy. Cũng như người Việt ai cũng biết mình là con rồng cháu tiên.
Đến rằm tháng bảy, ai cũng nhớ rằm này là lễ Vu Lan. Một dịp để mọi người luôn nhớ hiếu là lẽ sống hiền thiện an lạc, nếp sống tự lương tâm, lòng thương tự nhiên, đối với cha mẹ, ông bà và cũng thương tự nhiên với vợ chồng con cháu.
Có cách thương, người được thương an lạc hạnh phúc. Cũng có cách thương, người được thương đau khổ, buồn rầu.
Cho nên con người lại học hỏi lẫn nhau qua gia tài của tổ tiên truyền dạy và học ngay ở nơi sự sáng suốt của bản thân mình.
Con người tự nhiên thấy có đau khổ và an vui. Rồi tự hỏi vì sao đau khổ? Nhờ đâu mà an vui? Trăn trở, tìm tòi, khám phá, trải nghiệm mỗi ngày.
Có người hiểu được rằng hễ tham lam giận hờn, hiểu lầm và bạo động là đau khổ.
Trái lại, xa rời lòng tham, giận hờn, xa rời bao động là an vui.
Nhưng làm cách nào để cho mình thay đổi được tham lam, hận thù, bạo động và nuôi dưỡng được lòng thương vắng mặt tham lam, giận hờn bạo động?
Có nhiều cách hướng dẫn.
Đạo Phật hướng dẫn rằng, tham lam giận hờn bạo động lại chứa đủ hai yếu tố không tham lam, không giận hờn, không bạo động, lại sẵn sàng hiến tặng thương yêu và không làm tổn thương bất cứ ai, bất cứ loài nào.
Làm sao để có các yếu tố, các đức tính tốt này trong khi xung quanh thường có cách sống mạnh được yếu thua.
Đức Phật dạy, có hạt giống tốt và có hạt giống chưa tốt. Có hoa trái tốt và hoa trái chưa tốt. Tất cả tùy thuộc vào điều kiện tác động lên hạt giống loại này hay loại kia mà phát khởi hoa trái tốt hay chưa tốt.
Các loại hạt giống có khắp nơi trên mặt đất. Trời nắng quá thì không thấy. Nhưng mưa xuống thì chúng mọc lên. Có loại cây g*i góc, có loại cây cung cấp thực phẩm, muốn có thực phẩm, người ta đem hạt giống ấy gieo trồng và phát triển, và người ta nhổ bỏ g*i góc để ủ thành phân.
Thân tâm mình cũng là đất – đất tâm cần tưới, cần chăm thì cây mới mọc. Nhổ cây g*i góc, chăm sóc và phát triển cây lương thực, đó là việc của người làm vườn khéo léo, gieo trồng chăm sóc.
Tâm (thân) ta là đất, có hạt giống tốt, như từ bi hỷ xả, có hạt giống chưa tốt, như giết hại, trộm cắp, tình dục phi pháp, nghiện ngập say sưa và lừa gạt xu nịnh.
Nhưng hai loại hạt giống này chứa nhau, chúng không bao giờ tách khỏi nhau. Phật dạy: “Thở vào là tôi biết là tôi đang thở vào từ đầu tới cuối. Thở ra tôi biết tôi đang thở ra rõ ràng từ đầu tới cuối.” “Mĩm cười nhè nhẹ, buông thư căng thẳng nếu có ở thân và ở tâm.” Làm được như thế một cách sâu sắc không có suy nghĩ nào xen vào. Như vậy người ấy có chánh niệm. Chánh niệm nhờ biết thở, mĩm cười, buông thư. Các động tác này có chung một nội dung. Có một là có bốn. Có bốn là có một. Khi thở được thì hơi thở, tâm và thân nó trở nên một khối. Thân tâm ở với nhau nhờ nương hơi thở vào ra. Đó là niệm hơi thở. Tương tự như niệm Phật. Niệm các bậc mà mình tôn thờ. Niệm vị nào cũng cần thở, đó là sự thành đạt và truyền trao của các bậc giác ngộ. Cho nên thở chánh niệm không hề có nội dung tôn giáo, nó là lẽ sống. Muốn gọi nó là gì cũng được. Ở Phật giáo gọi thở chánh niệm là niệm Phật. Chánh niệm là Phật, là từ bi hỷ xả. Ai cũng có. Song chưa thở như trên thì hạt giống chưa nảy mầm tốt lên và cho hoa trái. Cho nên ta có hạt giống Phật mà chưa có được hoa trái Phật để sống. Như có hạt giống cam xoài mà chưa tác động (trồng) để cây xoài mọc lên, cho hoa, trái thì không có xoài để sử dụng.
Có chánh niệm là có từ bi hỷ xả trong mọi sinh hoạt như ăn cơm, làm việc, học hành, phụng sự. Nhưng làm mọi việc mà rất sáng suốt, biết cái gì nên làm, cái gì không nên làm. Chánh niệm như đèn, hễ thắp là sáng. Sáng mà vắng mặt suy tư. Do vậy người phụng sự không đuối sức lại được an vui hạnh phúc.
Từ bi hỷ xả là những nguồn thức ăn đang sử dụng, thì tham lam, giận hờn bạo động không hiện lên trong các sinh hoạt của mình lúc ấy, nó trở về hạt giống, ở dạng tiềm ẩn. Chỉ khi nào ta quên thở mà chỉ sống với giải trí độc hại, mưu cầu tư lợi ích kỷ, thấy ta và người khác nhau, người và vật khác nhau, thì từ bi hỷ xả ẩn đi, tham lam bạo động hiện lên, mình sống đời sống bất lương, khổ đau, như bị tù tội đoạ đày.
Thở chánh niệm rất đơn giản. Nhưng mới tập, ta thấy khó khăn, có đủ thứ dư thừa xen vào, cản trở, gọi là tâm tán loạn.
Tán loạn cũng là thân tâm ta. Ta đừng bực mình với chúng. Đừng dùng cách đánh đuổi tiêu diệt chúng. Làm thế là ta tạo xung khắc, ta chống chính ta. Điều này chỉ nhận khổ đau, căng thẳng, lâu ngày sẽ bệnh hoạn và những tệ hại lớn sẽ trấn ngự, chiếm lĩnh, nhấn chìm thân tâm ta. Corona có mặt là do sự sống này. Còn tán loạn phát khởi mà mình lảng tránh, chạy trốn như xem tivi, uống ăn để khỏa lấp, thì mình tự bỏ rơi mình. Mình phải chăm sóc tán loạn, như chăm sóc tham lam bạo động. Thở, trở về với hơi thở sau khi ghi nhận có tâm tán loạn đang khởi lên bằng nụ cười từ ái. Cười từ ái với người làm khổ mình thì cả hai đều hạnh phúc. Cười từ ái với tâm tán loạn còn phát khởi thì còn tốt hơn rất nhiều. Thở tự nhiên không cố gắng, nên lúc ấy ta vẫn thành công trong tập thở chánh niệm. Có người nhanh có người chậm, song ai cũng thực tập được. Các tu sĩ ở Ấn độ thời ấy, có sự tu tập, thành tựu về tâm linh cao viễn lắm. Nhưng không đáp ứng được cho chí nguyện của sa môn Tất Đạt Đa. Cuối cùng Ngài phải tự chọn cách tu qua kinh nghiệm từng trải và nhất là ước vọng thâm sâu kì đặc lâu nay, Ngài thực tập thiền hơi thở chánh niệm, duy trì hơi thở này lâu dài thì Ngài có định. Ngài nuôi dưỡng định niệm đến mức Ngài có tuệ giác và lúc ấy Ngài chuyển mọi hạt giống, mọi biểu hiện tiêu cực từ thô đến tế nơi Ngài thành từ bi hỷ xả, độ lượng bao dung, sáng suốt tuyệt vời, cho nên Ngài sống giữa một xã hội chấp thủ các tư kiến rất cực đoan và đa dạng, mà Ngài vẫn bình an, tự do. Ngài thành lập Tăng đoàn xuất gia và cư sĩ để giáo hóa và giúp đời, lưu truyền cho tới thời Corona này. Vì thế Ngài suốt 45 năm hoằng hóa vẫn duy trì hơi thở chánh niệm để vừa nuôi dưỡng vừa có sức bền bỉ mà thực hiện kỳ vọng của Ngài và của dân tộc Ngài, của mọi chúng sanh.
Ngài trở thành người con hiếu nghĩa vẹn toàn cho thời ấy và cho tới hôm nay với con người, mọi loài và thiên nhiên.
Ngài báo rằng Như Lai đã làm được và mọi người đều có khả năng làm được.
Thời đại chúng ta vẫn có những người làm được ở khắp năm châu. Có người hôm nay đã hướng dẫn bằng kinh nghiệm trải nghiệm của mình: “con về ngồi bên Mẹ (ba) và nhìn thật sâu vào mắt người, rồi nói rằng.” “Mẹ (ba, vợ, chồng...) ơi! Mẹ có biết hay không? Biết gì? Biết là con thương Mẹ không?”
Lời nói này là nói bằng chánh niệm chứ không phải chỉ là lời nói suông.
Lúc ấy cả hai Mẹ con thật sự có tình mẫu tử thiêng liêng hiếm quý. Mọi khổ đau, vướng mắc vắng mặt trong giây lát hiện tại ấy. Con có hiếu thực sự với mẹ ( ba... ) và ba mẹ cũng có phước lành nuôi được đứa con hiến tặng cho đời như thế.
Corona đang là nỗi lo cho cả thế giới. Mọi người đang hết lòng lo cho mình, chung lo cho nhau thoát khỏi mọi lây nhiễm. Chúng ta thở có chánh niệm thì mọi người trở nên từ ái, vững vàng. Rồi ai cũng tự nói với chính mình, nói với bệnh nhân, và nói với Corona. Nhờ năng lượng của ái ngữ tập thể hùng lực như thế, thì vừa có nhiều cơ may làm cho tình trạng bi thương này thay đổi một cách tốt đẹp hơn khi chưa có đại dịch, vì qua một giai đoạn dài khổ đau như chiến tranh toàn cầu, mà con người biết cách chuyển đổi được lại biết sống tỉnh thức, nên đã tạo được một nếp sống có ý nghĩa quý giá khác hẳn với khi chưa có đại dịch Corona. Người tu sĩ cũng như cư sĩ Việt nam đang cùng nhau nói tiếng nói đó. Mong sao tiếng nói này đều được nói chung với tư cách của Tăng thân quê hương Việt nam yêu dấu.
Mong sao thế giới cũng cùng nhau nói được tiếng nói: “Mẹ ơi!” này với tư cách là một tăng thân quốc tế. Đây là nội dung lễ Vu lan báo hiếu. Một nội dung do nhân loại tạo thành.
Xin biết ơn tất cả đã cho người viết vô lượng duyên lành để viết ra nội dung hạn chế về báo hiếu này, xin dâng lên cúng dường và hiến tặng cho đời, cho mạch sống tâm linh và huyết thống một phần nhỏ nào đó thôi.
Thành kính.
THÍCH GIÁC VIÊN