Trang Trại Lợn Rừng Mr TỊNH

Trang Trại Lợn Rừng Mr TỊNH Cung cấp:
Con giống LỢN RỪNG thương phẩm, hậu bị
LỢN RỪNG thương ph?

28/09/2015

THỨC ĂN DÀNH CHO LỢN RỪNG!

Thức ăn thô xanh gồm cây chuối, thân cây ngô, rau các loại (kể cả rau dướng, rau tàu bay…) quả su su, đu đủ… Ngoài ra, sử dụng các cây thuốc nam làm thức ăn cho lợn để phòng chống các bệnh đường ruột gồm:

+ Cây cỏ voi + Cây hoàng ngọc
+ Cây chè khổng lồ + Cây hoa tím (cây tiểu cô nương)
+ Cây nhọ nồi + Cây thèn đen (cây phèn đen)
+ Cây khổ sâm

Cách sử dụng cây thuốc nam:
Đối với lợn con:
+ Mới sinh ra chưa biết ăn hoặc ốm nếu bị tiêu chảy ta sử dụng 5 búp lá ổi, 1 ít lá khổ sâm, 1 ít lá phèn đen, 1 ít lá nhọ nồi và 1 chén nước giã lấy nước cho lợn con uống trực tiếp.
+ Nếu lợn con đã biết ăn thì cho lợn con ăn trực tiếp lá ổi, lá khổ sâm,phèn đen và lá nhọ nồi nhưng chủ yếu là lá ổi.
Đối với lợn mẹ: Khi có dấu hiệu bị tiêu chảy nên cho lợn ăn trực tiếp các cây thuốc nam trên.
CHÚ Ý:
- Trong khẩu phần ăn hàng ngày cũng nên cho lợn ăn cây thuốc nam để có tác dụng phòng bệnh tiêu chảy.

- Khi thấy có dấu hiệu tiêu chảy ta phải cho ăn cây thuốc nam luôn.

- Bình thường khi thay đổi khẩu phần ăn thì ta cũng cho nên cho lợn ăn thêm cây thuốc nam để phòng tránh bệnh tiêu chảy.

- Trong trường hợp bị rất nặng mới sử dụng đến thuốc kháng sinh để điều trị.

Thức ăn tinh bột gồm: cám gạo, sắn, khoai, bột ngô…
Thức ăn bổ sung đạm gồm đậu đỗ các loại (đậu tương, đậu thiều…), cá khô…đặc biệt là giun quế.
Thức ăn bổ sung khác gồm bột Premix khoáng, vitamin…

Yêu cầu nguyên liệu
Nguyên liệu phải đảm bảo chất lượng: không bị ẩm mốc, sâu, mọt, hấp hơi, có mùi lạ và không bị vón cục. Một số nguyên liệu cần được sơ chế trước để lợn dễ tiêu hoá (như đậu tương cần rang chin, vỏ sò, vỏ hến phải nung nóng trước khi nghiền…). Các loại nguyên liệu thức ăn trước khi phối trộn cần nghiền nhỏ. Khối lượng nguyên liệu phối trộn cần phải căn cứ vào số lượng lợn và mức ăn để trộn vừa đủ lượng thức ăn cho khoảng 5 – 7 ngày rồi lại trộn tiếp, tránh để lâu dễ phát sinh ẩm mốc.

Các công thức phối trộn thức ăn
Tùy điều kiện chăn nuôi của hộ và loại nguyên liệu sẵn có của địa phương để phối trộn thức ăn sao cho vừa cân đối dinh dưỡng lại vừa hạ giá thành sản phẩm lợn hơi xuất chuồng, sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số công thức để hộ chăn nuôi tham khảo:


Nguyên liệu Tỷ lệ phối trộn theo khối lượng lợn
(Tính cho 100 kg thức ăn)
10 – 30 kg 31 – 60 kg 61 kg trở lên
CT1 CT2 CT3 CT1 CT2 CT3 CT1 CT2
Bột ngô 33 23,5 42,5 28 44 31,5 26,8 45
Bột sắn - 10 8 10 - 16 21 10
Tấm 33 27 18 10 17 - 5 15
Cám gạo 5 8 - 24 15 23 25 9,5
Bột đậu tương 13 17 18 25,5 13,5 27 17 12
Bột đậu xanh 9 - 7 - 5,5 - 3 4
Giun quế 4,5 5 5 - 3 - - 2,5
Bột xương 2 1 1 2 1,5 2 1,7 1,5
Muối ăn 0,5 0,5 0,5 0,5 0,5 0,5 0,5 0,5

Lưu ý: Bảng tỷ lệ phối trộn trên chỉ mang tính chất tương đối, tùy thuộc vào từng chu kì của lợn để thay đổi tăng, giảm cho phù hợp.



Giới hạn tỷ lệ tối đa các loại nguyên liệu sử dụng trong phối chế khẩu phần ăn cho lợn
Nguyên liệu Tỷ lệ tối đa (%) Nguyên liệu Tỷ lệ tối đa (%)
Bột ngô 60 Khô đậu tương 20
Gạo, tấm 25 Đậu tương 25
Cám gạo 30 Đậu xanh 10
Bột sắn 25 Giun quế 10Cách phối trộn thức ăn
Đổ dàn đều các loại nguyên liệu đã nghiền ra nền nhà khô, sạch hoặc gạch lát theo thứ tự: Loại nhiều đổ trước, loại ít đổ sau. Đối với loại nguyên liệu có khối lượng ít như khoáng, vitamin phải trộn trước với 1 ít bột ngô hoặc cám gạo để tăng khối lượng sau đó mới trộn lẫn với các nguyên liệu khác để đảm bảo độ đồng đều. Dùng xẻng hoặc tay trộn thật đều, sau đó đóng thức ăn vào bao nilon, bên ngoài bao nilon là bao tải, buộc kín lại. Đặt bao thức ăn lên giá, không để vào chỗ quá kín hoặc nơi ẩm ướt. Sau khi lấy cám ra cho lợn ăn cần buộc kín phần còn lại tránh ẩm, mốc. Chú ý chống chuột cắn rách bao cám.

26/09/2015

QUY TRÌNH QUẢN LÝ LỢN CÁI HẬU BỊ, LỢN NÁI SINH SẢN,VÀ LỢN ĐẺ ĐỐI VỚI LỢN RỪNG.
1. Quản lý lợn cái hậu bị

- Những lợn cái hậu bị này đều được chọn lọc từ những dòng có khả năng sinh đẻ và nuôi con tốt. Trong đàn có những nái có tuổi động dục lần đầu từ rất sớm: 4, 5 tháng tuổi. Tuy nhiên thực tế ta nên bỏ qua 1-2 lần động dục đầu tiên, thường đợi đến lần động dục thứ 3 sẽ cho phối giống lần đầu nhằm tăng mức độ rụng trứng. Tuy nhiên việc lựa chọn nên phối giống ở lần động dục thứ 3 hay không còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố ảnh hưởng khác như: giá cả thức ăn, nguồn nhân lực… (lợn rừng thương phẩm tiêu thụ tốt ở những tháng cuối năm và đầu năm)

- Phát hiện động dục:
+ Lợn rừng chỉ động dục trong 2-3 ngày, và thông thường là 3 ngày. Trong ngày đầu động dục, âm hộ lợn sưng đỏ, cửa âm hộ có dịch nhờn loãng, hay nhảy lên lưng lợn khác và có phản xạ giao phối như con đực, khi có lợn đực hoặc mùi lợn đực thì con cái mới kêu rên thành tiếng... Vì vậy cách phát hiện lợn nái động dục tốt nhất là đưa 1 con đực vào trong chuồng lợn nái. Lợn đực sẽ nhanh chóng tìm ra con nái nào có biểu hiện động dục.

+ Ngày tiếp theo, âm hộ lợn cái bớt sưng, chuyển từ màu đỏ hồng sang màu tím tái, dịch nhờn keo đặc hơn. Trạng thái đi đứng không yên, bồn chồn cao độ. Khi lợn nằm hoặc đứng, ấn mông là lợn sẽ đứng yên và vểnh đuôi sang 1 bên. Đây là thời điểm phối giống tốt nhất cho lợn nái.

+ Sau giai đoạn mê ì ở ngày thứ 2, tuy lợn rừng cái vẫn còn những biểu hiện động dục nhưng cường độ yếu hơn và có thể không cho lợn đực phối.

2. Quản lý lợn nái sinh sản

- Quản lý phối giống: thời gian phát hiện động dục là 1 chỉ tiêu rất quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai. Nếu phối quá sớm hoặc quá muộn, tỉ lệ thụ thai và số con sinh ra trong ổ bị giảm sút nhanh chóng. Thông thường sẽ cho lợn đực phối giống trực tiếp vào ngày thứ 2 kể từ khi phát hiện động dục.

- Tỷ lệ đực/cái cũng là 1 chỉ tiêu rất quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng và thời hạn sử dụng đực giống. Tỉ lệ lợn nái/lợn đực là 5: 1 đối với đực trưởng thành và 3: 1 đối với đực trẻ (dưới 1 năm tuổi).

- Phát hiện có chửa: những lợn cái đã phối giống được theo dõi nếu sau 18-25 ngày sau khi phối giống không có biểu hiện động dục trở lại thí có thể kết luận rằng lợn nái đó đã có chửa.

3. Quản lý lợn đẻ

- Khi gần đẻ, lợn mẹ tách bầy, bới tìm chỗ và tự tạo lên ổ đẻ từ những nguyên liệu như rơm khô, cành cây, lá khô…Nên chọn và quây ổ đẻ ở những nơi khuất, yên tĩnh, ấm áp, cáo ráo và kín đáo là tốt nhất.

- Để cho lợn rừng tự đẻ, tuy nhiên người chăn nuôi cần có mặt khi lợn đẻ để hỗ trợ khi cần thiết. Trung bình thời gian sinh giữa 2 lợn con là 10-15 phút, trừ khi có những trục trặc xảy ra.

- Sau khi đẻ, lợn mẹ sẽ nuôi con trong nhà đẻ cho tới khi cai sữa, trung bình khoảng 2 tháng. Đàn con trước khi tách mẹ cần phải được đánh số tai và được ghi chép trong các phiếu ghi chép cá thể.

- Sau khi cai sữa lợn con được 4 – 5 ngày lợn mẹ có biểu hiện động dục trở lại nhưng thời điểm này ta không nên cho phối giống vì ta tiêm vacxin đồng thời giai đoạn này giúp cho lợn nái phục hồi thể trạng lần động dục sau sẽ mang thai tốt hơn.

25/09/2015

PHƯƠNG PHÁP CHỌN LỌC LỢN RỪNG GIỐNG
1. Chọn lọc lợn đực giống

- Lợn đực được chọn lọc và mua về lúc 6 tháng tuổi và sử dụng khi chúng đạt 7-8 tháng tuổi. Không sử dụng đực non vì còn nhỏ.

- Kiểm tra và đánh giá năng suất của lợn đực giống thông qua ngoại hình và thể chất bản thân cá thể. Tất cả lợn đực đều mang những đặc điểm giống tốt đặc trưng cho loài:

+ Đầu thanh, mặt dài, lưng thẳng, bụng thon không sệ.
+ 4 chân cao, thẳng và vững chắc. Lông bờm dựng đứng chạy dài từ cổ tới lưng.
+ Tinh hoàn lộ rõ, to và cân đối, độ đàn hồi tốt.
+ Tính hăng rất cao.
+ Số con đẻ ra / nuôi sống cao
+ Mang tính “hoang dã”, dữ tợn.

2. Chọn lọc lợn nái

- Lợn nái hậu bị được mua về lúc 4-6 tháng tuổi. Từ đàn nái hậu bị này sẽ tiến hành kiểm tra và đánh giá để làm lợn nái sinh sản.

- Khuyết tật: khi chọn lọc nái sinh sản phải không có khuyết tật, nếu có sẽ ảnh hưởng tới khả năng sinh sản và nuôi con. Cần quan tâm tới 3 bộ phận: cơ quan sinh dục, vú và khung xương. Nái chọn lọc cần đạt được những yêu cầu tối thiểu như trên.

+ Phát triển cơ quan sinh dục: toàn đàn hậu bị có cơ quan sinh dục phát triển bình thường cả về hình thể và hoạt động.
+ Phát triển vú: phải đảm bảo cần có số vú đủ để nuôi đàn con đông. Lợn rừng có 5 đôi vú xếp đồng đều mỗi bên, những nái có vú cong vênh, khô hoặc kẹ sẽ không chọn hoặc phải kiểm tra đánh giá lại. Hiện trạng trong đàn có 1 con có biểu hiện kẹ 2 vú dưới (K10), 2 con thừa vú thành 11 vú (D21 và B14).
+ Phát triển xương: toàn đàn có khung xương và 4 chân chắc, khoẻ, nhanh nhẹn và linh hoạt. Yêu cầu với những lợn hậu bị có chân yếu sẽ không chọn vì sẽ ảnh hưởng tới phối giống, đẻ và nuôi con.
+ Số con đẻ ra cao
+ Không ăn con

Một số ý kiến các bạn có thể tham khảo.
Chúc các bạn thành công!

24/09/2015

KỸ THUẬT CHĂN NUÔI LỢN RỪNG

Quan điểm trong xây dựng quy trình công nghệ chăn nuôi lợn rừng
* Lợn rừng – một loài lợn hoang dã đã và đang được nuôi tại một số nước như Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia, Lào và Việt nam. Tại nước ta, chăn nuôi lợn rừng nhen nhóm từ năm 2002.

* Sự phát triển đó xuất phát từ một thực tế là thịt lợn rừng khá ngon, với lượng mỡ thấp, và đặc biệt là có hương vị “núi rừng”.
Hiện nay chăn nuôi lợn rừng khá tuỳ tiện nhìn từ góc độ công nghệ và kỹ thuật. Có nơi nuôi như thể “trong rừng”, tức là thả tự do, để bùn đất cho lợn đằm, hỗn độn các loại to, nhỏ, đẻ, hậu bị, thức ăn chỉ là sắn, ngô, củ quả. Nhưng cũng có trang trại lại xem lợn rừng như lợn nhà: nuôi bằng cám hỗn hợp, nhốt trong chuồng xi măng, phân lợn ra nhiều loại theo lứa tuổi, bỏ quyên luôn nhu cầu “hoang dã” của con vật…

Nghiễm nhiên, các “công nghệ” đó có mặt hay và giở. Nó xuất phát từ tu duy “dự định có sản phẩm như thế nào từ việc nuôi lợn rừng”: Công nghiệp, Lợn quê hay lợn rừng.

Tư duy của chúng tôi như sau:

- Phải biến thịt lợn thành “lợn rừng” nhưng được kiểm soát về bệnh tật và an toàn thực phẩm. Lợn rừng hay bất kỳ động vật hoang dã nào sống trong rừng đều dễ dàng mang bệnh, hoặc các loại ký sinh nào khác. Những phát hiện của chúng tôi thấy rằng lợn rừng Phú yên có mang Giun móc, một loại giun khá nguy hiểm cho con người. Đa phần con vật được săn, bắn trong rừng và khi mang ra tiêu thụ đã thiu ôi, thậm chí đã thối. Nhưng “lợn rừng” nuôi được cho ăn những nguồn thức ăn an toàn, bệnh tật được kiểm soát, và nếu như giai đoạn chuẩn bị giết thịt chúng ta lại nuôi bằng các thức ăn nguyên thuỷ như ngô, khoai sắn, rau cỏ và tạo sân chơi rộng thoáng để cho chúng vận động thì có thể đó là “thịt hữu cơ”.

- Phải tăng số con sơ sinh và nuôi sống. Rõ ràng, muốn tăng nhanh sản phẩm, thì một cần tăng khả năng sinh sản, nuôi sống của vật. Để thực hiện được ý tưởng này, buộc chúng ta phải chọn giống theo số con, chọn đực giống theo chất lượng tinh và khả năng phối chửa, phải chọn lợn mẹ có số vú càng nhiều càng tốt. Và bên cạnh đó việc chăm sóc lợn đẻ: đảm bảo nhiệt độ ấm mùa đông – mát mùa hè, cho lợn mẹ và con ăn uống đủ chất thậm chí bằng thức ăn tổng hợp công nghiệp là điều cần thiết.

- Phải tiến hành chọn lọc đực giống / cái giống sao cho những thế hệ sau tốt hơn: để mắn hơn, nhiều con hơn, mang đậm tính “hoang dã”.

- Để làm được các việc trên cần nuôi thành từng nhóm, có thế mới có thể theo dõi dễ dàng, xử lý gọn nhanh. (Nếu như chúng ta nuôi nhiều lợn mẹ + lợn con vào chung một khu, thì không thể biết đâu là con mẹ nuôi con tốt, bao nhiêu con sống. Nếu ta không theo dõi, ghi chép đầy đủ lý lịch từng con thì không thể chọn lọc, bởi khả năng đẻ, nuôi con, sức sống của chúng rất khác nhau).

Address

Hòa Bình

Telephone

0906886509

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trang Trại Lợn Rừng Mr TỊNH posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Trang Trại Lợn Rừng Mr TỊNH:

Share

Category