04/06/2022
# 5 - SỔ CẤP CHO NGƯỜI DƯƠNG, TÒA PHÁN NGƯỜI ÂM
Tâm lý thông thường của tất cả các bên mua và bên bán, khi được cấp sổ có tên của mình trong đó là yên tâm 100% là tài sản đó mình sở hữu và có quyền định đoạt, mua bán sang tên cho người khác. Tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết gọn là sổ đỏ) được cấp rồi sau đó vẫn có thể bị thu hồi vì nhiều lý do khác nhau. Trường hợp như vụ án bên dưới là một ví dụ đơn cử, Tòa Tối Cao xem xét công sức tạo lập căn nhà để ra 1 phán quyết khá bất thường, công nhận quyền sở hữu nhà đất của một người đã qua thế giới bên kia.
Ông X sinh năm 1938 nộp đơn khởi kiện ông A (1934) và bà C (1958) vì cho rằng ông A và bà C phải chuyển nhượng cho ông nhà đất tại số 1D Cư xá PB, Quận 11, Tp. Hồ Chí Minh với giá 300 triệu. Ông X đã giao đủ tiền cho ông A và bà C, hợp đồng chuyển nhượng đã được công chứng tại Phòng công chứng số 2. Nhà đất này ông A và bà C đã được cấp giấy chứng nhận năm 2005. Khi ông thế chấp nhà vay tiền, cán bộ ngân hàng đến thẩm định các con ông A biết không có ý kiến gì. Nay ông X yêu cầu ông A, bà C thực hiện đúng hợp đồng hai bên đã ký kết và giao nhà đất cho ông.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông X xác nhận, thực tế mua nhà của ông A, bà C giá 300 triệu. Do ông Dưỡng vay của ông số tiền 500 triệu, nhưng ông A chỉ yêu cầu ông ghi 350 triệu, nên hợp đồng chuyển nhượng mới ghi 350 triệu.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông X lại khai, vợ chồng ông A vay ông nhiều lần tiền, tổng số tiền vay là 350 triệu nhưng việc vay tiền là riêng, không liên quan đến việc mua bán nhà.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông A trình bày: nguồn gốc căn nhà 1D, Quận 11 là do chế độ cũ cấp cho vợ chồng ông và bà B (chết năm 1977) từ năm 1956. Ông A và bà B có 5 người con chung. Các con của ông có hộ khẩu và hiện đang cư trú tại căn nhà này, chỉ có 1 người con gái đang cư trú tại Đài Loan. Từ năm 1990, ông chung sống với bà C không có đăng ký kết hôn, không có con chung; bà C hiện đang cư trú ở nơi khác và không có hộ khẩu trong căn nhà này. Năm 2002, khi kê khai đăng ký đề cập quyền sở hữu nhà, ông đã kê khai ông và bà C là chủ sở hữu căn nhà và năm 2005 chính quyền địa phương đã cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tên ông A và bà C.
Trong năm 2005, ông X và ông A có qua lại làm ăn với nhau, ông A có vay tiền ông X 5 lần tiền, tổng cộng là 350 triệu. Đến tháng 12/2007, ông đã trả cho ông X được 50 triệu, còn nợ lại 300 triệu, tiền vay ông X tính lãi 3%/tháng, ông đã trả lãi đến ngày 16/10/2006. Do ông X đòi tiền, ông A không có tiền trả nên ông X đã yêu cầu ông A và bà C ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất ngày 03/05/2007 tại phòng công chứng, mục đích là để ông X vay tiền Ngân hàng trừ nợ cho ông A.
Nay ông X khởi kiện yêu cầu giao nhà đất, ông A không đồng ý, ông A đồng ý trả nợ cho ông X 300 triệu, yêu cầu ông X trả lại giấy tờ nhà đất cho ông.
Cùng là bị đơn bà C trình bày như ông A khai và có bổ sung thêm, hiện căn nhà tranh chấp do ông A và các con ông A đang ở, bà C không cư trú trong căn nhà này.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là 5 người con thống nhất trình bày: nhà đất của ba mẹ họ là ông A và bà B (chết 1977) tạo lập, 5 người con không đồng ý bán nhà đất cho ông X, 5 người con không có đơn yêu cầu độc lập, không đồng ý nộp tiền tạm ứng án phí và nhất trí như ông A trình bày.
Ngày 16/09/2010, Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh tuyên án sơ thẩm: chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông X, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, đã được công chứng tại phòng công chứng giữa ông A, bà C và ông X. Buộc 5 người con và những người trong gia đình có trách nhiệm giao trả nguyên trạng nhà và đất số 1D, cư xá PB, Quận 11 cho ông X sau khi án có hiệu lực.
Ngày 28/09/2010, ông A và bà C cùng kháng cáo cho rằng không có việc chuyển nhượng nhà đất mà chỉ là vay nợ.
Ngày 14/06/2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng cáo của ông A và các con ông A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ngày 22/09/2011, ông A có đơn đề nghị giám đốc thẩm bản án phúc thẩm nêu trên. Ngày 27/12/2013 Chánh án TAND Tối Cao đã kháng nghị Bản án phúc thẩm, đề nghị Hội đồng thẩm phán TAND Tối Cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm của TAND Thành phố Hồ Chí Minh, giao hồ sơ vụ án cho TAND Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại vụ án.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao nhất trí với Kháng nghị của Chánh án TAND Tối Cao.
Xem xét lại các chứng cứ trong vụ án như sau: Ngày 03/05/2007, tại phòng công chứng số 2 ông A và bà C ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất tại số 1D, cư xá PB, Quận 11 cho ông X, giá chuyển nhượng là 300 triệu đồng, việc trả tiền ngoài sự chứng kiến của công chứng viên.
Theo các tài liệu trong hồ sơ và kết quả xác minh tại UBND P.5, Quận 11, Công văn số 375/UBND-TTQ ngày 29/04/2011 của UBND Quận 11 trả lời khiếu nại của các con ông A thì nhà đất của ông A, bà C chuyển nhượng cho ông X nêu trên có nguồn gốc do vợ chồng ông A và bà B tạo lập từ năm 1956. Bà B chết năm 1977, nên các con bà B được thừa kế một phần nhà đất; bà C chỉ sống chung với ông A từ năm 1990, không đăng ký kết hôn, không có công sức tạo lập căn nhà, nên bà C không phải là đồng sở hữu căn nhà cùng ông A, do đó bà C không có quyền chuyển nhượng nhà đất cho ông X. Cũng tại Công văn số 375/UBND-TTQ ngày 29/04/2011, UBND Quận 11 đã nêu rõ, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho ông A, bà C năm 2005 là do ông A tự khai có tên bà C, còn chính quyền cũng thiếu kiểm tra, nên thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất cho ông A và bà C là chưa đúng (tài liệu này con ông A đã cung cấp cho Tòa án cấp phúc thẩm). Như vậy, ông A chỉ được sở hữu một phần nhà đất tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa làm rõ bà B chết thì các con ông A và bà B có còn quyền thừa kế đối với căn nhà tranh chấp hay không. Thực tế các con của ông A và bà B thuộc diện thừa kế di sản của bà B và vẫn cùng ông A trực tiếp quản lý căn nhà này. Nay các con ông A không đồng ý bán nhà, ông A cũng không đồng ý chuyển nhượng nhà đất cho ông X và xác định căn nhà tranh chấp còn có quyền thừa kế của các con ông. Do đó, yêu cầu về quyền thừa kế của các con ông A có cùng nội dung với yêu cầu của ông A, không phải là yêu cầu độc lập với bị đơn. Hội Đồng Thẩm Phán cho rằng lẽ ra phải xem xét yêu cầu của các con ông A trong cùng vụ án khi giải quyết, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm cho rằng các con ông A không có đơn yêu cầu độc lập nên không xét, để công nhận hợp đồng mua bán nhà đất giữa ông A, bà C với ông X là không đúng.
Về số tiền thanh toán: Tuy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất có công chứng, nhưng sau ngày ký hợp đồng (ngày 03/05/2007), ông A và bà C vẫn còn xác lập hai “Giấy mượn tiền” cùng ngày 14/06/2007, theo đó ông X cho ông A vay 40 triệu và từ 29/01/2007 đến 29/04/2007 ông A còn nợ ông X tiền 4 đợt, mỗi đợt 23.200.000 VNĐ. Cả 2 giấy mượn tiền này ông A đều thế chấp “Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở - đất ở” và hai bên còn thỏa thuận khi nào ông A hoàn trả đủ tiền thì ông X trả giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Hội Đồng Thẩm Phán cho rằng lẽ ra phải làm rõ việc thế chấp “Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở - đất ở” nêu trên có phải chính là giấy tờ nhà đất tranh chấp không? Nếu giấy tờ thế chấp đúng là quyền sở hữu nhà đất tranh chấp thì tại sao đã mua bán rồi mà ông A vẫn còn thế chấp cho ông X. Ông A khai chỉ vay nợ, không bán nhà; còn ông X cho rằng việc mua bán nhà không liên quan đến việc vay nợ. Như vậy, ông X trả tiền mua nhà có biên nhận riêng hay là trừ vào khoản nợ ông A vay. Có phải việc mua bán nhà là giả tạo để che giấu hợp đồng vay nợ này không. Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa làm rõ các tình tiết nêu trên mà cho rằng hợp đồng mua bán nhà đã thực hiện xong, nên công nhận hợp đồng là chưa đủ căn cứ.
Trong vụ kiện tụng này, điểm mấu chốt để đảo ngược kết quả của phiên sơ thẩm và phiên phúc thẩm là Tòa Tối Cao thừa nhận công sức tạo lập căn nhà từ năm 1956 của ông A và bà B. Theo đó, vào năm 1977 khi bà B chết sẽ phát sinh sự kiện thừa kế theo pháp luật vì bà B không để lại di chúc lúc qua đời. Chính sự công nhận của Tòa Tối Cao đã làm cho việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho ông A và bà C năm 2005 của UBND Quận 11 không có giá trị pháp luật. Dẫn đến hợp đồng mua bán nhà, đất giữa ông A, bà C và ông X trở nên vô hiệu.
Theo các thông tin trong bản án có 2 sự kiện rất bất thường, thứ nhất là ông A và bà C không có đăng ký kết hôn và thực tế bà C cũng không sinh sống tại căn nhà đó từ trước đến nay nhưng bằng cách nào đó ông A và bà C đã xin được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cho căn nhà ở Quận 11. Điểm khác thường thứ hai đó chính là sự trách móc nhẹ nhàng trong Quyết định giám đốc thẩm khi Tòa Tối Cao cho rằng chính quyền đã thiếu kiểm tra khi chỉ dựa vào lời khai của ông A mà không xác minh nguồn gốc tạo lập quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà nên thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà chưa đúng. Theo quan điểm này của Tòa Tối Cao có thể hiểu rằng chính quyền (tức UBND Quận 11) phải có trách nhiệm xác minh nguồn gốc đất đai trước khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Nếu đã biết căn nhà do người đã qua đời tạo lập nên thì không thể cấp giấy theo lời khai của những người còn sống được.
Từ quyết định giám đốc thẩm này có thể thấy rằng không phải tất cả các hợp đồng chuyển nhượng nhà đất có công chứng đều được công nhận giá trị pháp lý và không phải ai có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cũng được pháp luật công nhận. Và một điểm quan trọng khác là pháp luật công nhận công sức tạo lập quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà, kể cả trường hợp đương sự đã qua đời.
Bài viết này dựa trên Quyết định giám đốc thẩm số 18/2014/DS-GĐT ngày 19/05/2014 của Tòa án nhân dân Tối Cao về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà đất và đòi nhà”, các luật sư đồng nghiệp và bạn hữu quan tâm có thể đọc thêm tham khảo.
Trân trọng cảm ơn.
LS. Nguyễn Thị Hồng Hoa