Pháp luật về đất đai

Pháp luật về đất đai Pháp luật về đất đai sẽ tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai, phân chia
(1)

01/12/2025

Điểm mới nổi bật về thẩm quyền xét xử trong các vụ án/vụ việc của Tòa án nhân dân các cấp từ thời điểm 1/7/2025
- thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài cho Tòa án nhân dân cấp khu vực.
- Phân định, bổ sung thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
👇👇👇

Bàn về Điều 198a: Quyền thu giữ tài sản bảo đảm của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD (Luật số 96/2025...
24/10/2025

Bàn về Điều 198a: Quyền thu giữ tài sản bảo đảm của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD (Luật số 96/2025/QH15) được QH thông qua Ngày 27/6/2025 có hiệu lực thi hành ngày 15/10/2025
Lần đầu tiên, quyền thu giữ tài sản bảo đảm của TCTD được ghi nhận công khai, rõ ràng trong luật, đi kèm với cơ chế phối hợp hỗ trợ từ chính quyền cấp xã và lực lượng công an cơ sở, làm rõ vai trò và thẩm quyền của UBND cấp xã trong các hoạt động hành chính hỗ trợ thực thi pháp luật. Việc phối hợp giữa TCTD và chính quyền địa phương, đặc biệt trong bối cảnh quyền thu giữ được mở rộng đặt ra yêu cầu cấp thiết về một khung pháp lý và hành chính đồng bộ, khả thi và phù hợp với đặc thù tổ chức nhà nước tại Việt Nam.
1. Điều kiện kích hoạt điều khoản
Nội dung thu giữ được thể hiện trong hợp đồng bảo đảm hoặc văn bản thỏa thuận hợp pháp và quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
2. Trách nhiệm của chính quyền trong việc thực thi điều khoản
UBND và công an cấp xã có trách nhiệm bảo đảm an ninh, trật tự trong quá trình thu giữ TSBĐ, đồng thời tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ TSBĐ nếu bên bảo đảm vắng mặt hoặc không hợp tác.
3. Chủ thể được ủy quyền thu giữ TSBĐ
TCTD chỉ có thể ủy quyền thu giữ TSBĐ cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc TCTD đó; tổ chức mua bán, xử lý nợ chỉ được ủy quyền thu giữ TSBĐ cho TCTD bán nợ, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của TCTD bán nợ.
So sánh về quyền thu giữ TSBĐ giữa Việt Nam, Nhật Bản và Đức
4. Ưu điểm và bất cập:
* Ưu điểm:
- Tăng cường quyền chủ động cho TCTD: Việc trao quyền thu giữ trực tiếp giúp TCTD xử lý TSBĐ nhanh hơn, giảm thiểu rủi ro mất giá hoặc thất thoát tài sản;
- Tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng: So với cơ chế khởi kiện ra tòa án để yêu cầu cưỡng chế giao tài sản, quy trình thu giữ theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm có thể rút ngắn đáng kể thời gian xử lý, đồng thời giảm áp lực lên hệ thống tòa án dân sự vốn đang quá tải;
- Hỗ trợ khơi thông dòng vốn trong nền kinh tế: Khi tài sản được thu hồi và xử lý kịp thời, TCTD có thể tái cơ cấu các khoản vay hoặc tái cấp vốn, góp phần duy trì tính thanh khoản và ổn định thị trường tín dụng.
* Bất cập:
- Phụ thuộc vào chính quyền cấp xã: Việc thực thi quyền thu giữ trong nhiều trường hợp không thể tiến hành nếu thiếu sự phối hợp từ UBND và công an cấp xã. Năng lực hành chính, sự sẵn sàng và kiến thức pháp lý của cấp xã không đồng đều, dẫn đến nguy cơ quy định “treo” hoặc không được thực hiện đúng cách.
- Thiếu cơ chế giám sát và giải quyết tranh chấp: Hiện chưa có thiết chế giám sát hành vi thu giữ, cũng như cơ chế độc lập để giải quyết khiếu nại từ phía bên bảo đảm trong trường hợp có tranh chấp về tính hợp pháp của việc thu giữ. Điều này tạo khoảng trống bảo vệ quyền lợi, nhất là khi tài sản có tính nhạy cảm cao.
- Nguy cơ lạm quyền từ đơn vị được ủy quyền: Mặc dù luật giới hạn đối tượng được ủy quyền trong nội bộ hệ thống TCTD, thực tế vẫn có khả năng phát sinh hành vi lạm quyền nếu không có quy định kiểm tra, hậu kiểm và cơ chế xử lý sai phạm rõ ràng.
- Tác động xã hội ở cấp cơ sở: Việc thu giữ tài sản tại cộng đồng dân cư nhỏ, nơi có quan hệ xã hội gắn bó, có thể dẫn đến mâu thuẫn, xung đột và giảm sút niềm tin vào chính quyền nếu không được xử lý thận trọng. Chính quyền cấp xã, trong trường hợp này, vừa là đối tượng bị áp lực từ TCTD, vừa chịu trách nhiệm với dân cư địa phương.
Quy định tại khoản 5 Điều 198a Luật số 96/2025/QH15 đưa ra một hướng tiếp cận khá đặc thù, có thể hiểu như” hành chính hóa quyền dân sự”, cụ thể:
Lần đầu tiên pháp luật Việt Nam xem như chính thức giao trách nhiệm cho chính quyền cấp xã trong một hoạt động có tính chất bán dân sự, bán hành chính như thu giữ TSBĐ. Về mặt lý luận, quy định này đánh dấu một sự chuyển biến đáng chú ý: Từ việc xem quyền thu giữ như một phần phụ thuộc của vật quyền trong tư pháp dân sự, sang việc nhìn nhận nó như một quyền có thể thực hiện được nhờ sự can thiệp hành chính có kiểm soát.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu quy định mang tính thể chế hóa này có thực sự khả thi trong điều kiện hành chính, pháp lý hiện hành hay không?
5. Thực trạng triển khai và những thách thức đặt ra
* Thực trạng triển khai:
Một số chính quyền cấp xã, phường còn e ngại phối hợp với TCTD trong quá trình thu giữ tài sản, đặc biệt là trong các vụ việc phát sinh tranh chấp hoặc có phản ứng từ người dân. Nguyên nhân phổ biến là do “thiếu hướng dẫn pháp lý thống nhất” và “ngại trách nhiệm cá nhân khi xảy ra xung đột tại địa phương”. Thực tế này cho thấy, dù pháp luật đã ghi nhận quyền thu giữ tài sản, nhưng việc thiếu cơ chế phối hợp cụ thể và cơ sở bảo vệ cán bộ địa phương khiến quá trình triển khai gặp nhiều trở ngại. Nhiều cán bộ cấp xã vốn quen xử lý các vụ việc hành chính, dân sự đơn giản, không có chuyên môn sâu về quan hệ tín dụng hoặc TSBĐ, nên dễ lựa chọn “tránh tham gia” để hạn chế rủi ro cá nhân.
Ngoài ra, năng lực thể chế ở cấp xã còn không đồng đều. Ở một số xã, phương của khu vực thành phố, đô thị lớn thường được đào tạo bài bản, có chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ cao. Ngược lại, tại các xã ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, cán bộ thường kiêm nhiệm, thiếu kỹ năng pháp lý và không có cơ chế phản hồi nhanh với tình huống pháp lý bất ngờ. Sự bất cân xứng này vô hình chung tạo ra một dạng bất bình đẳng pháp lý trên thực tế, nơi một số TCTD có thể thu giữ được tài sản trong vòng vài ngày, còn nơi khác thì bị “bế tắc hành chính” kéo dài. Về bản chất, điều này vi phạm nguyên tắc bình đẳng trong tiếp cận công lý mà bất kỳ hệ thống pháp luật hiện đại nào cũng cần bảo đảm.
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 khẳng định, mô hình tổ chức hành chính nhà nước theo hai cấp, gồm cấp tỉnh và cấp xã. Trong đó, khoản 3 Điều 39 quy định: “Căn cứ các tiêu chí về quy mô dân số, diện tích tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù của từng loại đơn vị hành chính cấp xã ở nông thôn, đô thị, hải đảo, UBND cấp xã được tổ chức các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác hoặc bố trí các công chức chuyên môn để tham mưu, giúp UBND cấp xã quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực theo quy định của Chính phủ”. Như vậy, theo quy định này, không phải mọi chính quyền cấp xã đều có hệ thống cơ quan chuyên môn về pháp lý hay tư pháp độc lập trong khi vẫn phải thực hiện các chức năng hành chính, dân sự và gìn giữ trật tự địa phương. Việc gán thêm trách nhiệm hỗ trợ thu giữ tài sản, một hoạt động có tính chất tranh chấp tiềm ẩn mà không đi kèm với hướng dẫn nghiệp vụ, nguồn lực hoặc cơ chế phối hợp rõ ràng, có thể gây ra hiện tượng “phản ứng trì hoãn” hoặc thậm chí bất hợp tác trên thực tế.
Và đặc biệt là pháp luật hiện hành không đặt ra cơ chế xử lý khi chính quyền cấp xã không thực hiện nghĩa vụ phối hợp. Việc thiếu chế tài hành chính hoặc cơ chế giám sát khiến Điều 198a có nguy cơ rơi vào trạng thái “khuyến nghị mềm” (soft law), tồn tại trên văn bản nhưng thiếu tính cưỡng chế thi hành. Đồng thời, quy trình phối hợp giữa công an cấp xã và TCTD hiện chưa được cụ thể hóa bằng quy chế liên ngành, khiến việc xác định thời điểm, phạm vi và hình thức chứng kiến vẫn phụ thuộc vào sự “thiện chí” và hoàn cảnh địa phương, thay vì một chuẩn chung quốc gia.
* Khuyến nghị:
- Cấu trúc lại hành lang pháp lý về thu giữ TSBĐ, với các nội dung cốt lõi
(i) Quy định rõ các bước trong quy trình thu giữ: Thông báo, niêm yết, thời hạn chờ, tổ chức cưỡng chế, xác nhận của đại diện UBND xã;
(ii) Quy định rõ mẫu biên bản chứng kiến thu giữ, nội dung xác lập việc bàn giao TSBĐ;
(iii) Hướng dẫn trách nhiệm hành chính của cán bộ cấp xã, công an xã khi từ chối hoặc chậm phối hợp;
(iv) Có cơ chế khiếu nại, giải quyết tranh chấp nếu bên bảo đảm cho rằng việc thu giữ vi phạm quy định.
(v) Sửa đổi một số điều tại Bộ luật Dân sự năm 2015 để đồng bộ hóa với cơ chế thu giữ mới, đặc biệt là các quy định liên quan đến việc tự nguyện bàn giao tài sản, hạn chế quyền định đoạt tài sản đang được bảo đảm, cũng như xác lập giới hạn nghĩa vụ chứng minh của TCTD khi thực hiện quyền này.
- Tăng cường năng lực thể chế cấp cơ sở
Khả năng thực thi quyền thu giữ TSBĐ phụ thuộc đáng kể vào năng lực hành chính, nhận thức pháp lý và thái độ hợp tác của chính quyền cấp xã. Hiện nay, năng lực này không đồng đều, bị chi phối bởi nhiều yếu tố hành chính, chính trị và xã hội từ điều kiện ngân sách, trình độ cán bộ, cho đến áp lực cộng đồng. Để bảo đảm tính khả thi và công bằng trong thực thi pháp luật trên toàn quốc, cần thực hiện một chiến lược tăng cường thể chế cấp cơ sở theo hướng toàn diện.
- Xây dựng thiết chế thực thi trung lập
Hạn chế cốt lõi của mô hình thực thi hiện hành tại Việt Nam là sự phụ thuộc quá mức vào chính quyền cấp xã, một cấp hành chính vốn không được thiết kế để đảm nhận chức năng cưỡng chế pháp lý trong các giao dịch dân sự, tài chính. Thực tiễn cho thấy, cán bộ cấp xã thường không có chuyên môn sâu về pháp luật dân sự, đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng. Họ cũng dễ bị tác động bởi áp lực xã hội, tâm lý “né tránh va chạm” và thiếu các công cụ pháp lý rõ ràng để xử lý các tình huống xung đột tại hiện trường. Trong bối cảnh đó, việc thiết lập một thiết chế cưỡng chế trung lập, chuyên môn hóa và độc lập khỏi hệ thống hành chính địa phương là một hướng đi đáng cân nhắc.
- Hài hòa với pháp luật thi hành án và tố tụng dân sự
Cần quy định phân định rõ về thẩm quyền ưu tiên xử lý và trình tự cưỡng chế, để tránh dẫn đến xung đột thẩm quyền giữa TCTD, cơ quan thi hành án, và tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
Trên đây là bảng tóm tắt một số nội dung chính của bài viết được đăng trên website:

Việc Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) đánh dấu bước tiến đáng kể trong quá trình hoàn thiện thể chế pháp lý về xử lý nợ xấu tại Việt Nam. Lần đầu tiên, quyền thu g...

18/04/2023

Thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo nội dung di chúc 👇👇👇

14/04/2023

Hợp đồng đặt cọc trong chuyển nhượng bất động sản. ⬇️⬇️⬇️

Quy định pháp luật về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc👇👇👇👇
22/03/2023

Quy định pháp luật về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
👇👇👇👇

17/03/2023

Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu đối với tài sản phải đăng đăng ký quyền sở hữu.
👇👇👇👇

08/03/2023

NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ VÀ NĂNG LỰC TRÁCH NHIỆM HÌNH SƯ CỦA NGƯỜI BỊ TÂM THẦN

Một người được cho là bị tâm thần có phải sẽ được miễn trách nhiệm trong tất cả hành vi do mình thực hiện không?
Câu trả lời ở đây là không?
Cụ thể một người được cho là bị tâm thần chỉ được xem xét miễn trách nhiệm nếu người này được xác định là người bị mất năng lực hành vi dân sự.
1. Vậy người bị tâm thần có mặc nhiên được xem là người bị mất năng lực hành vi dân sự hay không?
Căn cứ theo Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 quy định về mất năng lực hành vi dân sự thì trong quan hệ dân sự một người được cho là bị tâm thần chỉ được xem là mất năng lực hành vi dân sự khi và chỉ khi người đó được Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự.
2. Vậy ai sẽ là người có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự?
Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định về quyền yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
Theo đó chỉ những người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
Ví dụ: như cha hoặc mẹ, vợ hoặc chồng , con cái của người đó…
Căn cứ đơn yêu cầu của người có quyền, Tòa án sẽ tiến hành trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Sau đó Tòa án sẽ mở phiên tòa để xét xử yêu cầu này.
Và chỉ sau khi Tòa án có quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì cá nhân người bị tâm thần đó mới chính thức được pháp luật công nhận là người mất năng lực hành vi dân sự

3. Các giao dịch dân sự cho người mất năng lực hành vi dân sự thực hiện
Tại Khoản 2 Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 quy định về mất năng lực hành vi dân sự cũng đã quy định rõ:
“…giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.”
Vậy ai được xác định là người đại diện theo pháp luật của người mất năng lực hành vi dân sự trong quan hệ dân sự.
Điều 53 Bộ luật dân sự 2015 quy định về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự
Và Điều 136 Bộ luật dân sự 2015 quy định về đại diện theo pháp luật của cá nhân
Trong trường hợp chưa xác định được người giám hộ thì theo quy định người giám hộ đương nhiên sẽ là người đại diện pháp luật của người bị mất năng lực hành vi dân sự.
Ví dụ: trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ đương nhiên như vậy chồng sẽ là người đại diện theo pháp luật của vợ và nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ sẽ được xem là người giám hộ đương nhiên và cũng sẽ là người đại diện theo pháp luật của vợ….
4. Các hậu quả pháp lý:
4.1 Trong giao dịch dân sự.
Trường hợp giao dịch dân sự do người bị mất năng lực hành vi thực hiện thì căn cứ theo Điều 125 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do người mất năng lực hành vi dân sự thực hiện
Theo đó theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp:
1. Giao dịch dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
2. Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người mất năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
3. Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

4.2. Về mặt doanh nghiệp.
Trường hợp người mất năng lực hành vi dân sư theo pháp luật đang quản lý một doanh nghiệp hay đang là người đại diện pháp luật cho một doanh nghiệp.
Căn cứ Điều 17 Luật DN 2020 có quy định về quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp, theo đó người bị mất năng lực hành vi dân sự sẽ không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam.
Và trong trường hợp nếu người này đang là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thì căn cứ theo Điều 12 Luật Doanh nghiệp quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.
- Trong trường hợp đây là công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.

4.3. Về mặt hình sự.
Căn cứ Điều 21 Bộ Luật hình sự 2015 quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
Theo đó người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu được xác định là đang mắc bệnh tâm thần trong khi thực hiện hành vi đó thì theo quy định sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này.
Mong rằng những chia sẽ này sẽ giúp ích được cho các bạn.
Mọi câu hỏi, thắc mắc tư vấn về pháp luật các bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua số hotline trên màn hình.
Cảm ơn các bạn đã theo dõi.

GÓP VỐN VÀO DOANH NGHIỆP BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
01/03/2023

GÓP VỐN VÀO DOANH NGHIỆP BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Hiện nay, nhu cầu góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp ngày càng tăng cao. Bên cạnh những lợi thế như giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc hợp tác kinh doanh, chủ động về quỹ đất, tiết kiệm chi phí thuê mặt bằng, ch...

Cho vay quá lãi suất theo quy định sẽ bị xử lý như thế nào
18/02/2023

Cho vay quá lãi suất theo quy định sẽ bị xử lý như thế nào

Xin chào Luật sư hình sự, luật sư tư vấn online Công ty Luật Tia Sáng, tôi có một số người thân bị vướng vào tín dụng đen. Chỉ trong một thời gian ngắn nhưng số tiền phải trả đã tăng gấp nhiều lần số tiền vay ban đầu. Tôi xin h.....

CÓ ĐƯỢC LY HÔN KHI VẪN CÒN KHOẢN NỢ CHUNG
22/12/2022

CÓ ĐƯỢC LY HÔN KHI VẪN CÒN KHOẢN NỢ CHUNG

Sau khi kết hôn, việc vợ chồng cùng nhau thỏa thuận vay tiền của người khác là vấn đề thường xuyên xảy ra. Tuy nhiên, nhiều người dân có vướng mắc pháp lý liệu rằng khi cả hai vợ chồng chưa trả hết nợ chung thì có được quyền y...

Address

Ho Chi Minh City
84

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Pháp luật về đất đai posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Pháp luật về đất đai:

Share

Category