08/10/2019
Câu hỏi bao giờ xây cầu cát lái cũng như di dời toàn bộ cảng ra khỏi TP HCM là câu hỏi nóng bỏng cho bất cứ đầu cơ viên bất động sản ở khu vực phía Nam. Cầu thì không phải là không có tiền làm, nhưng câu hỏi quan trọng nhất vẫn chưa có lời giải đó là : TP HCM được gì sau khi có cây cầu vì hiện tại thấy “ mất “ tương đối nhiều nếu thực hiên cầu. Bài nghiên cứu này có thể giúp chúng ta đu trend khi để ý thượng tầng chính phủ làm 3 việc sau đây
1/ TP sợ thất thu ngân sách => Cơ chế tài chính công theo hướng khuyến khích phối hợp vùng
Chính quyền TP.HCM quan ngại việc di dời cảng vì phải phụ thuộc vào nguồn thu thuế xuất nhập khẩu. Việc thiếu một cơ chế vùng để chia sẻ nguồn thu đã tạo ra sự cạnh tranh giữa các chính quyền địa phương nhằm thu hút cảng về phía mình bất kể điều kiện tự nhiên và tác động của cảng đến môi trường đô thị. Nên kết hợp việc thiết lập một cơ quan quản lý và điều tiết cảng cấp vùng cho Đông Nam bộ với việc xây dựng cơ chế chia sẻ nguồn thu ngân sách từ thuế xuất nhập khẩu để giảm động cơ tài chính duy trì cảng ở địa phương mình. Vì các cảng là phục vụ toàn bộ các tỉnh Đông Nam bộ, nên cũng sẽ không công bằng nếu số thu này thuộc về TP.HCM, BRVT hoặc bất kỳ tỉnh nào trong vùng. Một cơ chế chính quyền cảng sẽ có cả chức năng thu thuế liên quan đến hoạt động cảng biển và tái đầu tư số tiền này vào cơ sở hạ tầng hỗ trợ. Cách làm này sẽ giúp khắc phục tình trạng thiếu phối hợp liên tỉnh trong phát triển cơ sở hạ tầng hiện nay. Chính quyền cảng cũng có động cơ đảm bảo rằng những cơ sở hạ tầng thiết yếu phải được hoàn tất đúng tiến độ để đảm bảo cho sự hoạt động trôi chảy của các cảng. Số thu phụ trội so với nhu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng hỗ trợ sẽ được phân phối cho các tỉnh mà hệ thống cảng Đông Nam bộ phục vụ để giảm động cơ xây dựng cảng riêng trong mỗi tỉnh, vốn là nguyên nhân dẫn đến sự phân mảng trong hoạt động cảng hiện nay
2/ Các đơn vị sở hữu cảng tại TP HCM sợ mất đi đất vàng của mình khi di dời => Xác lập và tăng cường quyền sở hữu
Đất là tài sản quan trọng nhất ở Việt Nam. Đất có thể được chuyển đổi thành bất động sản thương mại, đất ở và đất công nghiệp nhiều giá trị và có thể sử dụng làm tài sản thế chấp vay vốn và dùng góp vốn vào các công ty liên doanh. Các nghiên cứu ở Việt Nam đã cho thấy các cơ quan nhà nước và DNNN đang có lợi thế so với doanh nghiệp tư nhân và cá nhân về khả năng tiếp cận và kiểm soát đất. Tuy nhiên các tổ chức nhà nước này không có quyền sở hữu được xác lập rõ ràng đối với đất. Quyền sử dụng đất thường cho phép sử dụng đất vào mục đích cụ thể, ví dụ, đất ở, sản xuất công nghiệp, thương mại, khai thác mỏ hay nông nghiệp. Khả năng kiểm soát đất và chuyển đổi quyền sử dụng đất từ khu vực này sang khu vực khác là phương thức quan trọng để hình thành và chuyển giao của cải ở Việt Nam. Vì xét về bản chất quyền sử dụng đất mang tính hành chính, nên nỗ lực duy trì kiểm soát đất và chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện trong phạm trù chính trị, chứ không phải trên thị trường. Rõ ràng