28/12/2023
(Ráng đọc hết nhé anh chị em!) Kim chỉ nam cho mọi việc.
NHÂN TRÍ DŨNG của bậc QUÂN TỬ là gì?
Trước thời Đức Khổng Tử, Nho giáo ít nói về Nhân. Đức Khổng
Tử bắt đầu nói về Nhân – Trí – Dũng; đến thời thầy Mạnh Tử bớt
dũng mà thêm lễ và nghĩa; tới thời Hán, Đổng Trọng Thư thêm
đức tín, thành ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
THEO KHỔNG GIÁO thì:
– Chữ Nhân: Theo Khổng giáo, trong Kinh Dịch, Trời có đức
Nguyên là năng lực tốt lành, điểm xuất phát của cuộc sanh hóa
vũ trụ muôn loài, Người có đức Nhân là nền tảng mọi sinh hoạt
tốt đẹp, vốn ẩn tàng trong mỗi con người.
Đức Khổng Tử không đưa ra một định nghĩa đầy đủ cụ thể về
chữ NHÂN, nhưng qua sách Luận Ngữ có thể thấy ý nghĩa: Nhân
là đạo đối với mình và đối với người. Muốn cho mình mà cũng
muốn cho người. Đồng thời Ngài cũng phân biệt Đức Nhân của người và của bậc Thánh.
Chữ Nhân (仁) được lập thành bởi bộ Nhân (亻) và chữ
Nhị (二)
Bộ Nhân chỉ thị con người đứng trong không–thời–gian.
Chữ Nhị bao gồm hai ý nghĩa:
• Về mặt xã hội, con người đích thực phải giao hòa tốt đẹp
với tha nhân (chữ nhị chỉ thị ta và tha nhân). Giao hòa với
tha nhân tức là thân yêu mọi người (thân dân). “Thân dân” là
hiện thực cương lĩnh thứ hai trong ba cương lĩnh của sách
Đại Học: “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại
chỉ ư chí thiện: Đường lối của bậc đại học ở tại làm sáng lên
năng lực sáng láng, ở tại thân yêu mọi người, ở tại nhắm tới
trọn lành.”
• Về phương diện tâm linh, con người là nơi hội thông nối kết
cả hai năng lực: Trời và Đất (chữ Nhị chỉ thị thiên địa). Để trở
nên con người lý tưởng đích thực, ngoài việc thương yêu đồng
loại, con người còn phải sống thích hợp với quy luật thiên nhiên,
ứng hợp với hai năng lực thiên địa, điều phối tốt đẹp hai năng
lực thiên địa để xứng đáng trở nên Tài Nhân trong thế Tam Tài:
Thiên Địa Nhân (Trời, Đất, Người).
+ Tài Thiên (Trời) là: Năng lực của ánh sáng và dưỡng khí.
+ Tài Địa (Đất) là: Năng lực sinh dưỡng vạn vật (bao gồm đất
và nước).
+ Tài Nhân (Người) là: Khả năng điều phối tài năng Trời và tài năng Đất để làm cho mọi người, mọi vật được phát triển phong phú, tốt đẹp. Con người muốn thực hiện được chức năng tài Nhân, phải có tấm lòng bao la yêu thương mọi người, mọi vật với ý hướng tốt đẹp là biến đổi cả xã hội và thiên nhiên trở nên một môi trường thiện hảo.
Theo Khổng giáo, Đức Nhân có một chiều kích cao rộng, có
tầm mức từ thấp lên cao, từ gần ra xa. Tuần tự phát triển đức
Nhân, tiểu nhân có thể tiến lên bậc quân tử, thánh hiền, thậm
chí “phối Thiên”. Đức Nhân có thể khiến cho gia đình an vui, xã
hội ổn định và nhân loại thái hòa.
Nhân có hai phần tích cực và tiêu cực. Tích cực là “Kỷ dục
lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” (Đó là đức Trung, yêu
người, hết lòng với người); tiêu cực là “Kỷ sở bất dục vật thi
ư nhân” (Đây là đức Thứ, là suy lòng mình mà biết được lòng
người, mình muốn cái gì thì người cũng muốn cái đó, vậy nên
làm cho người những cái mà mình muốn và đừng làm cho người
những cái mà mình không muốn).
Nhân là Trung, Thứ, tức là đạo đối với người, nhưng đồng
thời cũng là đạo đối với mình nữa: Kỷ dục lập, kỷ dục đạt; mình
phải muốn lập thân, thành công thì mới có thể giúp người lập
thân, thành công được.
Nhân vừa là tu thân vừa là ái nhân, vừa là xử kỷ vừa là tiếp
vật, là trung tâm của đạo đức, từ đó mà phát ra các đức khác, và
các đức khác tụ cả về nó. Cho nên Phùng Hữu Lan gọi nó là “toàn
đức”; Lâm Ngữ Đường gọi là nó là “sagesse idéale” (sự minh triết
lý tưởng).
– Chữ Trí: Trí là sự sáng suốt hiểu biết, không bị vô minh
ngăn che. Hán tự ghép chữ Tri và chữ Nhật làm một để viết
thành Trí. Tri biểu thị cái hiểu biết nhanh nhẹn như tên bay;
còn Nhật chỉ sự sáng suốt tỏ rạng tựa ánh mặt trời. Nếu cộng lại, Trí có nghĩa là không chỗ nào, không việc gì là không biết (Trí
tri dã, vô sở bất tri dã; Khang Hi). Trí cũng còn giải thích được
là thông rành sự lý, nhiều mưu lược, biết biến xảo sâu xa (Thâm
minh sự lý dã; phàm đa kế lưu mưu lược chi xảo giả, giai vị chi
trí: Từ Nguyên).
Giảng về Trí, Đức Mạnh Tử có lần đã nói qua sự liên hệ giữa
nó và Tâm, Ngài viết: “Thị phi chi Tâm, Trí chi đoan dã” (cái tâm
phân biệt phải quấy, Trí là hạng đứng hàng đầu). Nhân mà đạt
tới một mức cao để có thể giúp đời thì lại cần phải có TRÍ. Có
sáng suốt thì mới biết làm lợi cho đức Nhân của mình.
Nhân mà không trí, thì yêu người mà không phân biệt được
(phải trái, họa phúc). Trí mà không nhân thì biết mà không làm:
nhân là để yêu nhân loại, trí là để trừ cái hại cho nhân loại. TRÍ
là trước khi làm phải định cái quy tắc, là sớm đoán trước được
họa phúc, lợi hại, trông thấy vật động mà biết được nó sẽ biến
hóa ra sao, thấy việc dấy lên mà biết nó sẽ đưa đến đâu, trông
thấy lúc đầu mà biết được lúc kết… Trước sau không trái nhau,
phân biệt được đầu đuôi… lời nói ít mà dư, gọn mà rõ, giản dị
mà sâu xa… tuy ít mà không thể thêm được, tuy nhiều mà không
thể bớt được, hành động đúng với luân thường, lời nói xứng với
công việc.
– Chữ Dũng: Đức Khổng Tử đã nói trong chương Hiến vấn–
Luận ngữ: Người đạo đức thì lời nói có đạo lý; Còn người nói
đạo lý chưa chắc đã có đạo đức. Người có nhân rất dũng cảm,
nhưng người dũng cảm chưa chắc có nhân. (Hữu đức giả tất
hữu ngôn, hữu ngôn giả bất tất hữu đức. Nhân giả tất hữu dũng,
dũng giả bất tất hữu nhân.) Như vậy, đạt được nhân, ắt có dũng.
Dũng theo giáo lý Khổng giáo, là những con người không để hoàn cảnh chi phối, luôn luôn có đủ can đảm suy nghĩ, phán đoán lấy mình, dù đứng giữa cơn phong ba bão tố, vẫn không bị bấn loạn, luôn giữ sự bình tĩnh để đón nhận thời của mình theo Thiên mệnh.
Trong tác phẩm “Cái Dũng của Thánh nhân”, luận về “hạo nhiên chi khí” của Nho giáo, Dũng là tính như như bất động, thản nhiên bình tĩnh, không để cho ngoại vật động đến tâm mình, làm chủ cả tình dục và ý chí.
Đức Trang Tử nói: Lặn xuống đáy biển, mà không biết sợ giao
long, đó là cái Dũng của bọn chài lưới. Vào rừng mà không biết
sợ hổ báo, đó là cái Dũng của bọn thợ săn. Thấy gươm bén mà
không biết sợ, xem tử như sanh, ấy là cái Dũng của người liệt
sĩ. Biết được chỗ cùng thông là Thời, Mạng và bất cứ là ở vào
cảnh nguy hiểm nào cũng không biết sợ, đó là cái DŨNG của
Thánh nhân.”
Như vậy, cái Dũng của Thánh nhân tức là chỗ cùng cực của
Điềm Đạm.
Luận về những người đại dũng, Tô Đông Pha nói: “Bực
đại dũng thình lình gặp những việc phi thường cũng không
kinh; vô cố bị những điều ngang trái cũng không giận” (Thốt
nhiên lâm chi nhi bất kinh; vô cố gia chi nhi bất nộ). Trái lại,
“Kẻ thất phu bị nhục, thì tay tuốt gươm đứng dậy, vươn mình
xốc đánh” (Thất phu kiến nhục, bạt kiếm nhi khởi, đỉnh thân
nhi đấu).
Đừng nói sai, nói thật, và chỉ biết nói thật mà thôi, là tập cho
mình có một tinh thần bất úy. Trong đời, nhất thiết việc gì, phải tập tánh nói cho đúng với sự thật. Ấy là một tánh, cần phải tập
luyện từ nhỏ mới được, đừng để bị phải thói quen mà sau nầy
không dễ gì sửa đổi cho được. Mỗi một khi ta nói dối, tinh thần
ta giảm bớt dũng khí đi một ít. Càng nói dối chừng nào thì cái
dũng khí của mình càng suy nhược chừng nấy. Cho nên những
kẻ ham nói dối là những người khiếp nhược. Mỗi khi ta nói dối
là mỗi khi ta nuôi dưỡng tánh hèn nhát của ta.
Thánh Gandhi là người thứ nhất dám tự hào:“Tôi không
bao giờ biết nói dối”. Thật vậy, mặc dù ông là một nhà chính
trị, đối với phe nghịch ông, ông cũng không bao giờ nói dối
để được việc cho mình. Lời nói ông là một bảo đảm chắc chắn
hơn tất cả những hiệp ước. Hễ ông hứa một điều gì, thì việc ấy
kể là đã được ông thi hành rồi. Theo luật Võ sĩ đạo (Bushido)
của người Nhật cũng vậy. Họ lấy sự giữ lời hứa là một danh
dự riêng của người đại dũng. Nói dối, theo họ, là một khiếp
nhược.
Tóm lại, theo Đức Khổng Tử: “Bậc trí thì không mê hoặc; bậc
nhân thì không lo lắng; bậc dũng thì không sợ sệt”.
THEO LÃO GIÁO thì:
Lòng yêu thương (Nhân) hiện diện trong con người rất tốt lành. Người ấy có tính khiêm hạ, làm lợi cho mọi người không phân biệt, như nước làm lợi cho vạn vật. Vì khiêm hạ và quảng đại như đầm sâu, người ấy không tranh giành với ai, cho nên không bị ai oán trách. Do có lòng nhân trọn vẹn như thế, con người lý tưởng trong Đạo giáo gần gũi với Đạo (Thực tại tối hậu); tức là gần gũi với Trời.
Trời Đất lấy cái sống của vạn vật làm cái sống của mình.
Vạn vật sinh hóa mãi thì tự nhiên Trời Đất còn vĩnh viễn. Do đó,
con người bắt chước Trời không ích kỷ sống cho mình sẽ tạo
được sự hòa thuận và yên bình với mọi người. (Đạo Đức Kinh)
Đức Nhân nơi Thánh nhân là không chấp nê, không thiên
kiến, đối với bất cứ ai. Đối với kẻ thiện và kẻ không thiện đều lấy
lòng thiện mà đối xử. (Đạo Đức Kinh).
Đức Lão Tử dùng chữ Từ thay cho chữ Nhân, vì chữ Từ là
biểu hiệu tình thương của người mẹ do Ngài dùng chữ Mẹ để
chỉ Đạo là Mẹ sinh ra vạn vật. Lòng Từ là tình thương bao gồm
sự nuôi dưỡng, che chở, tha thứ và độ lượng, nên có thể sinh ra
Dũng. Tình thương của người mẹ là nền tảng của sự dũng cảm.
Người mẹ sẵn sàng bất chấp mọi hiểm nguy để bảo vệ con mình.
Theo Đức Lão Tử, lấy đức trả oán là thể hiện lòng Từ. Người làm
được điều đó thật là kẻ phi thường, là chí thiện, dũng mãnh vì
đã thắng được lòng vị kỷ của mình.
Theo Đức Lão Tử, có ba đức tính quý báu là: Lòng từ, tính tiết
kiệm và sự khiêm tốn. Ngài dạy: “Trị người, thờ Trời, không gì
bằng tiết kiệm.” Tiết kiệm sự tiêu xài nên được giàu có, tiết kiệm
tinh thần nên thần khí (tinh thần) không bị tổn hao; bậc lãnh
đạo cầm quyền tiết kiệm, dân chúng sẽ ấm no giàu có. Sự khiêm
tốn nói lên đức Trí, tránh được sự đố kỵ của người gây hại chính
mình. Tiết kiệm chính là thể hiện đức Dũng, kềm chế được sự
ham muốn của bản thân. (Đạo Đức Kinh)
– Chữ Trí và Dũng: Theo Đạo Đức Kinh, Trí và Dũng thường
đi đôi nhau.
Đức Lão Tử dạy không tranh đua là khôn ngoan, biết tự bảo
tồn để đạt mục đích mà không cần dùng sức mạnh hay tranh
chấp. Người có Trí và Dũng, không ích kỷ, không ham tranh đua
với người, không khoe khoang, không kể công khi làm được
việc, không tự cao tự đại.
Biết quay về với Đạo là sống theo lẽ Đạo, suốt đời không nguy.
Biết lấp kín nguồn đam mê nhân dục, không để bị cám dỗ bởi âm
thanh sắc tướng. Biết giữ lòng không rối loạn thì suốt đời không
phải lo âu, mỏi mệt. Phải nhìn thấy mầm mống của tai ương khi
vừa bắt đầu manh nha, mới là người sáng suốt. Biết giữ thái độ
mềm dẻo trong khi hành động, tức là không hiếu thắng, mới là
người mạnh mẽ.
Biết người là khôn ngoan, nhưng tự biết mình, tức là biết
những ưu khuyết điểm của mình, cần phải có trí thông minh,
chịu suy nghĩ, dẹp bỏ tự ái cá nhân để nhìn thấu suốt chính mình
một cách khách quan là người có trí. Còn tự thắng mình, đòi hỏi
phải có sức mạnh tinh thần và một ý chí cương quyết, biết dùng
lý trí để tự kềm chế bản thân, là người dũng.
Đức Lão Tử dạy về chữ Dũng, Ngài phân biệt hai loại dũng
mãnh: dũng mãnh mà liều lĩnh là điều thường thấy; dũng mãnh
mà không liều lĩnh tức dùng nhu thắng cương, mới là sự dũng
mãnh của người có trí và có lòng nhân.
THEO PHẬT GIÁO thì:
Phật giáo gọi là Bi – Trí – Dũng.
– Chữ Bi là gọi tắt của chữ Từ bi là Hán dịch của chữ Karunâ
trong kinh sách tiếng Phạn. Từ là lành, hiền từ; bi là thương xót,
thương hại.
Karunâ trong Phật giáo là khả năng nhận thức rằng mọi sinh
linh có giác cảm, từ con người cho đến đến các sinh vật khác đều
gánh chịu khổ đau, khi nào tất cả các sinh linh ấy chưa được giác
ngộ và giải thoát, thì Từ bi chính là ước vọng mãnh liệt thúc đẩy
ta phải giải thoát cho tất cả mọi chúng sinh, trong đó có cả ta, ra
khỏi khổ đau.
Vì thế Từ bi không có nghĩa đơn giản là “xót thương” kẻ
khác một cách thụ động và tiêu cực, mà ngược lại, Từ bi là một
sức mạnh tích cực đưa con người thẳng vào hành động, trong
mục đích loại trừ mọi thể dạng của khổ đau và mọi cội rễ của
khổ đau.
Đối với các trường phái Phật giáo Nam tông, như Phật
giáo Theravada, Từ bi chứng thực và bảo đảm hành giả là
một “đệ tử đích thực” của Phật, một “người con” của Phật,
một người biết giữ gìn Giới luật, biết trau dồi một tâm thức
tích cực bằng Bốn Phạm Trú (còn gọi là Tứ Vô lượng tâm).
Bốn Phạm trú ấy là Từ vô lượng (maitrî): tâm lành hướng
về mọi chúng sinh; Bi vô lượng (karunâ): xót thương và cứu
giúp tất cả chúng sinh; Hỷ vô lượng (muditâ): tâm thức vui
mừng và hân hoan khi nhận thấy những điều lành của chúng
sinh; Xả vô lượng (upeksâ): buông thả tất cả những gì của
chính ta cho chúng sinh.
Phật giáo Tây Tạng thường đưa ra hình ảnh sau đây để giải
thích thế nào là lòng Từ bi và thế nào là một cái nhìn đúng đắn.
“Nếu có một người cầm gậy đánh ta, ta không kết tội chiếc gậy
đã làm cho ta phải đau đớn, ta cũng không kết tội kẻ đã cầm gậy
đánh ta,…mà ta phải kết tội sự nóng giận đang chi phối, thúc đẩy
và hành hạ người đang cầm gậy đánh ta.”
– Chữ Trí: Theo Kinh pháp Phật giáo, tiếng Phạn gọi Trí là
Prajna, diễn âm chữ Hán là Bát nhã hay dịch nghĩa là Đại Trí Tuệ,
có công dụng lớn là đưa người tu đến quả vị Phật, bởi cái Trí ấy
sáng suốt cùng tột, thông đạt cùng tột và giác ngộ cùng tột. Cái
trí ấy là một khí giới sắc bén, linh diệu có khả năng đoạn diệt
phiền não, quét sạch vô minh, làm cho hành giả nhận rõ được
thân phận vô thường của con người, hiểu được những đam mê
phi lý của cuộc sống và giúp cho chúng sanh thấy được sự thật
của vũ trụ vạn hữu để hướng đến giải thoát (Vô lậu trí).
Trong kinh Di giáo, Đức Như Lai đã dạy:
“Người có Trí Tuệ, không tham trước, tự tại, sáng suốt, tránh
khỏi hố hầm tội lỗi. Trí Tuệ chân thật là chiếc thuyền kiên cố, đưa
chúng sanh đến khỏi bể khổ sông mê. Nó là ngọn đèn soi miền hắc
ám, là liều thuốc chữa được muôn ngàn bệnh tật, là chiếc búa sắt
đập tan rừng phiền não, là lưỡi dao bén cắt đứt lưới vô minh.”
Phật giáo còn có từ Trí Huệ.
Trí Tuệ (智慧) và Trí Huệ (智惠) có cùng chữ trí (智) và cho
dù tuệ (慧) và huệ (惠) có viết khác nhau vẫn xuất phát từ bộ
tâm (心). Tức cả hai từ đều nói về sự hoạt động của bộ não con
người.
Có quan niệm giữa trí tuệ và trí huệ có sự khác nhau về ý
nghĩa: Các Luận sư Phật giáo phân ra hai loại TRÍ:
– Trí tuệ là hiểu biết, một thứ hiểu biết bị giới hạn trong các
hiện tượng và mối liên hệ của chúng trong các quy luật, là một
phần của TRÍ HUỆ.
– Trí huệ đồng nghĩa với Bát nhã (tiếng sanskrit: prajnã) là sự
nhận thức không phải do suy luận mà có, mà là trực nhận tính
không của các pháp, một thứ trí xuất thế đưa đến bờ giác. Đạt được trí huệ (tức trí Bát Nhã) là giác ngộ và là một yếu tố quan
trọng của Phật quả.
– Chữ Dũng: Theo Phật giáo, không có nguyên gốc thuật ngữ
nào của Phật giáo gọi là Dũng, Dũng cảm, hay Dũng khí. Kinh
Pháp Hoa có nói đến DŨNG trong câu: “Nhĩ thì Xá Lợi Phất dũng
dược hoan hỉ, tức khởi, hợp chưởng”(爾 時 舍 利 弗 踴 躍
歡 喜, 即 起, 合 掌) nghĩa là: Lúc ấy tôn giả Xá Lợi Phất vui
mừng hăng hái, liền đứng dậy, chắp tay. DŨNG (踴) trong câu
này DŨNG bộ túc, nghĩa là hăng hái, khác với DŨNG (勇) bộ lực
là mạnh mẽ, dũng cảm.
Nhưng nếu đi vào kinh tạng thì sẽ tìm thấy từ tương đương:
Đức Phật đã dạy trong nhiều kinh của Nam tông và Bắc tông
rằng: Có bốn nhân tố tâm lý là gốc của mọi hành động sai lầm
dẫn đến khổ đau, phiền não cho mình và người là tham, sân, si
và sợ hãi.
Đức Phật cũng dạy có bốn nhân tố tâm lý giúp con người đi
ra khỏi tâm lý sai lầm, đi ra khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não là: Vô tham,
vô sân (từ), vô si (hay minh, trí tuệ) và vô úy (không sợ hãi, hay
định tĩnh, như như bất động; hay không dao động).
Vô úy là thái độ sống của người Phật tử chân chính giữa dòng
đời vô thường, biến động. Thái độ sống ấy biểu hiện một cách tự
nhiên của những tâm hồn nhuần thấm từ bi và trí tuệ. Không có
một nỗ lực khác thường nào ở đây để được ngợi ca là can đảm,
hay dũng cảm. Chính vì thế mà thái độ sống điềm nhiên ấy thật
sự mang bản chất dũng cảm, đúng nghĩa Dũng cảm, bởi dũng
cảm luôn có mặt ngay trong tâm thức từ bi, trí tuệ: Có trí tuệ là có dũng cảm; có từ bi là có dũng cảm; và có trí tuệ là có từ bi và
dũng cảm.
NHƯ VẬY
Con người là sản phẩm hoàn hảo của Tạo Hóa với tất cả những
gì gọi là chân, thiện, mỹ; có mặt nơi cõi hữu hình để làm sứ mạng
vi nhân, thay Trời cai quản muôn loài. Con người phải giữ tấm
lòng yêu thương và trí tuệ của Trời đã ban cho, đồng thời phải có
một dũng khí để san bằng mọi thử thách, chướng ngại khó khăn,
vượt qua vô vàn cám dỗ của biển danh lợi vật chất nơi chốn trần
gian vốn là trường thi tiến hóa. Nếu như từ ngàn xưa, Nhân – Trí
– Dũng là thước đo nhân cách của một Con Người đúng
nghĩa, là biểu tượng tính cách của những bậc anh hùng lưu danh
thiên cổ, tức là người Quân tử theo Khổng giáo; thì ngày nay Nhân – Trí – Dũng chính là tiêu chí để con người Thánh hóa bản thân, bước ra khỏi vòng luân hồi nghiệp quả, trở lại miền vô sanh cực lạc.
---
“Nhân là thương khắp muôn loài vạn chủng,
Không biệt phân nòi giống lạ hay quen,
Cũng không chia cao thấp sang hèn,
Thương kẻ ghét mình mà lo tế độ".
Phải trang bị cho mình một tấm lòng bác ái, bao dung rộng
mở, không chỉ thương người đồng loại mà còn thương cả chúng
sanh muôn loài, bởi vì ý thức rằng tất cả tuy trình độ tiến hóa
khác nhau nhưng cùng chung một cội nguồn Thái Cực. Từ tình
thương đó sẽ không còn những chia cách phân biệt giống nòi,
màu da, sắc tóc hay so đo kỳ thị giai cấp, chủng tộc sang hèn. Bởi
vì tất cả con người đều có một giá trị tinh thần ngang nhau, đều
có khả năng tiến hóa đến mức cao như nhau. Hơn thế nữa, để
thể hiện đức Nhân, Con người Sứ mạng còn phải thương kẻ ghét
mình để mà giúp đỡ, cảm hóa, hoàn thiện họ.
“Trí là biết tri hành mà thoát khổ,
Biết lòng người và biết chỗ thị phi,
Biết những gì phải trái bỏ đi,
Biết tiến thoái, biết tùy doi nương vịnh.”
“Trí phán đoán giác mê đôi ngả
Trí học thông luật cả đạo Trời.”
“Dũng Là biết chế kềm vọng tánh,
Dám đoạn trừ bất chánh nơi tâm,
Dám hi sinh vì đạo nghiệp mà làm,
Dám chuyển hóa lòng tham sân si dục.”
Đó là sự đại hùng, đại lực, cương quyết dứt bỏ lòng tham dục riêng tư, đoạn tuyệt với những tư tưởng thấp hèn của phàm ngã; không chỉ dám từ bỏ quyền lợi vật chất mà còn dám hy sinh cả thân mình để hiến dâng cho nhân quần xã hội và sự nghiệp đạo đức.
“Người giải thoát là đại hùng chiến thắng ma nghiệp, can đảm
hơn cả, mãnh lực vô cùng. Thật thế, chỉ có hàng giải thoát mới
không bị nô lệ cho ma danh, quỷ lợi, ái ân yêu tà. Người giải thoát
không hẹp chật tình thương, không nhỏ nhen sự sống, không ích
kỷ hạnh phúc riêng mình, mà đứng ngoài thế gian, lo cho thế gian
những phần hy vọng, không con ràng, chồng buộc, không lợi khiến
danh sai, ở trần muôn kẻ mất tự do mà chỉ mình thong d**g tiêu
nhàn, không bị một vật gì ngăn trở, thì người giải thoát không hơn
sao được?”
“Cái đức của người Quân tử thường như nước vậy. Nghĩa là
châu lưu khắp, chảy tứ phương, gặp tròn, gặp méo, gặp dài, gặp
vuông, nước cũng chìu theo được hết. Lại nước cứ từ cao chảy xuôi xuống thấp, nên người Quân tử luống chịu hạ mình cho vừa lòng tất cả nhơn sanh. Nhưng nước tuy cứ tìm chỗ thấp, cứ chìu theo khuôn, cứ mềm với chúng mà đến chừng ai muốn cho nó tiêu mòn sứt mẻ thì chẳng làm sao hề hấn đến được lấy chút mảy may gì nó bao giờ. Người Quân tử theo đời mà chẳng nhiễm đời, chìu người mà chẳng bợ người, tùy tục mà không đắm tục; cứ giữ tánh tình thanh bạch, tâm chí cao siêu, dầu ai dầm cũng chẳng phai, ai giũa cũng chẳng mòn, nên bả lợi danh, mồi chung đỉnh có bao giờ trêu nhử được đâu."
“Có lòng nhân mới khỏi sanh thù hận, thêm nhiều bạn–tác trên lối. Có trí mới phân chánh, tà, lợi, hại. Có dũng mới lánh xa cạm bẫy, vũng ô–trược mị tà.”
Trí và Dũng sẽ giúp con người điều chỉnh Đức Nhân. Người có đủ đầy Nhân Trí Dũng sẽ chặt đứt được tham sân si dục, làm chủ được thất tình.