Khánh Hòa Quê Tôi

Khánh Hòa Quê Tôi Khánh Hòa quê hương tôi từ những điều bình dị nhất. Sao phải là người lạ trên chính Quê hương mình?

20/08/2024

CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG DLG CONS
👉 Dự án Cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu cần tuyển:
- 01 Chỉ huy trưởng
- 02 Kỹ sư hiện trường
- 02 Kỹ sư nội nghiệp
- 01 Kỹ sư trắc đạc
- 01 Cán bộ vật tư
🎯 Phúc lợi:
- Mức lương cực cạnh tranh, thỏa thuận theo năng lực
- Các chế độ phúc lợi đầy đủ theo quy định: BHXH, thưởng lễ tết trong năm (kể cả thử việc), thưởng tháng 13, du lịch, nghỉ phép, thăm hỏi ốm đau hiếu hỉ,...
- Lương thanh toán đều hàng tháng
- Môi trường làm việc chuyên nghiệp, hiện đại, làm việc với công trình cấp 1 và cấp đặc biệt
---> Ứng viên quan tâm nhắn tin SMS/Zalo 0868.171377
---------------------------------------------------
🏢Trụ sở: 97/2 Nguyễn Hữu Cảnh, Phường 22, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
☎️ Hotline: 0868.171377
📨 Email: [email protected]

🎉🎉🎉  Top những điểm tham quan, vui chơi thú vị ở Nha Trang:
03/06/2019

🎉🎉🎉 Top những điểm tham quan, vui chơi thú vị ở Nha Trang:





Bình Ba - một hòn đảo nhỏ yên bình, đơn sơ thuộc tỉnh Khánh Hòa, không chỉ mang đến thiên nhiên gần gũi, trong lành mà c...
01/06/2019

Bình Ba - một hòn đảo nhỏ yên bình, đơn sơ thuộc tỉnh Khánh Hòa, không chỉ mang đến thiên nhiên gần gũi, trong lành mà còn là nơi hội tụ của nhiều đặc sản không thể không thử.





Bình Ba - một hòn đảo nhỏ yên bình, đơn sơ thuộc tỉnh Khánh Hòa, không chỉ mang đến thiên nhiên gần gũi, trong lành mà còn là nơi hội tụ của nhiều đặc sản...

Rực rỡ Lễ hội hoa lan toàn quốc 2019 tại Nha Trang. 800 tác phẩm lan độc đáo của gần 500 nghệ nhân tham dự hội thi Hoa l...
01/06/2019

Rực rỡ Lễ hội hoa lan toàn quốc 2019 tại Nha Trang. 800 tác phẩm lan độc đáo của gần 500 nghệ nhân tham dự hội thi Hoa lan toàn quốc 2019 tại Khu du lịch Đảo Hoa Lan (Nha Trang) thu hút rất đông người dân và du khách đến tham quan, thưởng lãm.



(Tổ Quốc) - 800 tác phẩm lan độc đáo của gần 500 nghệ nhân tham dự hội thi Hoa lan toàn quốc 2019 tại Khu du lịch Đảo Hoa Lan (Nha Trang) thu hút rất đông người dân và du khách đến tham quan, thưởng lãm.

Giải nhiệt mùa hè TẮM SUỐI KHOÁNG NÓNG ở công viên Yang Bay lớn nhất Việt Nam  😎  😎😎🌞 Hè này, đến Nha Trang đừng quên gh...
31/05/2019

Giải nhiệt mùa hè TẮM SUỐI KHOÁNG NÓNG ở công viên Yang Bay lớn nhất Việt Nam 😎 😎😎

🌞 Hè này, đến Nha Trang đừng quên ghé tới công viên Yang Bay trải nghiệm hồ khoáng nóng tự nhiên tại đây. Công viên Yang Bay nằm gọn trong một khu rừng nguyên sinh với không khí ôn hòa, mát mẻ. Nơi đây có rất nhiều hồ nước nóng, mỗi hồ có một nhiệt độ khác nhau, bạn có thể chọn bất kỳ hồ nào vừa với cảm nhận của mình. Còn gì tuyệt vời khi vừa ngâm mình trong nước ấm, lại vừa được ngắm nhìn dòng “thác trời” Yang Bay trắng xóa.

Chè Thái gái Tuyên cũng không bằng nét duyên con gái Khánh Hòa.
31/05/2019

Chè Thái gái Tuyên cũng không bằng nét duyên con gái Khánh Hòa.

(Dân trí) - Xuất hiện trên diễn đàn chuyên về trai xinh gái đẹp châu Á, hình ảnh của một cô gái với thần thái xuất sắc, ánh mắt “hút hồn” người đối diện. Dù chỉ là những hình ảnh đen trắng giản dị nhưng nhanh chóng cô gái n....

THÁP BÀ PONAGAR NHA TRANGDi sản văn hóa quốc gia✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ Trong quá trình tồn tại và phát triển, cư dân cổ...
26/05/2019

THÁP BÀ PONAGAR NHA TRANG
Di sản văn hóa quốc gia
✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️

Trong quá trình tồn tại và phát triển, cư dân cổ Chămpa đã để lại một khối lượng di sản văn hóa khổng lồ cả về văn hóa vật chất, tinh thần trên dải đất miền Trung và Tây Nguyên ngày nay. Những thành tựu của nền văn hóa Chămpa được thể hiện đầy đủ và tiêu biểu trên nhiều lĩnh vực: nghệ thuật xây dựng kiến trúc đền tháp; nghệ thuật điêu khắc; bia ký; chữ viết; tôn giáo tín ngưỡng …

✴️ Dưới vương triều Panduranga, người Chăm xây dựng các đền tháp trên đồi Cù Lao ở xứ Kauthara, để thờ Nữ thần Ponagar là Mẹ Xứ sở của người Chăm, tên thường gọi là Tháp Bà Ponagar. Di tích có niên đại xây dựng khoảng từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XIII. Khu đền tháp có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống tôn giáo, tinh thần của dân tộc Chăm. Mỗi công trình chứa đựng những tinh hoa nghệ thuật của văn hóa Chămpa. Với những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật tiêu biểu, năm 1979 Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích Tháp Bà Ponagar là di tích Quốc gia.

✴️ Tháp Bà Ponagar thuộc phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, là một quần thể kiến trúc lớn và được phân bố trên 3 mặt bằng: Tháp Cổng, Mandapa và khu đền tháp. Do biến động của lịch sử, hiện nay khu di tích còn lại 5 công trình kiến trúc ở hai mặt bằng: Gồm Mandapa (tiền đình) và Khu đền Tháp ở phía trên.

✴️ Mandapa (Tiền đình)
– Khu vực Mandapa: có bốn hàng cột lớn xây bằng gạch nung, bao gồm 10 cột lớn phía trong và 12 cột nhỏ hình bát giác ở phía ngoài. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học cho rằng, đây là kiến trúc hở tường bao và có mái che bằng các vật liệu nhẹ, vì trên mỗi cột lớn, tương ứng với chiều cao cột nhỏ đều có “lỗ mộng”. Trải qua thời gian, hiện nay không còn dấu vết mái che của Mandapa. Các nhà nghiên cứu cho rằng đây có thể là nơi các tín đồ chuẩn bị các lễ vật trước khi lên hành lễ ở các đền tháp phía trên.

✴️ Đi lên hành lễ ở các đền tháp phía trên, các tín đồ phải đi theo các bậc rất dốc. Họ phải đi như bò, tay bám các bậc phía trên để không ngã ra sau và khi xuống phải đi lùi quay lưng xuống bên dưới, cách đi như vậy có thể để thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần được thờ ở trên. Trải qua thời gian, lối đi này đã bị sạt lở, khó đi hơn nên người xưa mở đường bên cạnh, men theo sườn đồi lên tháp, đường mới này ít dốc hơn, dễ đi lại với các bậc xây bằng đá chẻ.

✴️ Trước đây, phía đông Mandapa còn có hai cột nhỏ, thấp hơn nền, ở hai bên bậc lên xuống Mandapa (nay không còn, chỉ còn dấu tích) và thẳng ra cổng chính (cổng cũ – nay không còn). Cổng, Mandapa và tháp Chính ở trên tạo thành trục thẳng đông – tây, như trục thần đạo của Pô Nagar. Khi tu bổ di tích, người ta đã phát hiện ra những bậc tam cấp dẫn lên Mandapa và thẳng với cổng chính trước đây của di tích. “Trong khi phát lộ mặt bằng để trùng tu, đã làm xuất lộ ở mặt Đông một con đường và dãy tam cấp dẫn lên gian giữa của tòa nhà cột. Dãy tam cấp có bốn bậc, cao 1,20m, rộng 1,40m; còn đoạn đường dài 7,40m, rộng 2,60m (chiều rộng của con đường đúng bằng chiều rộng của tam cấp), nằm cách tường Đông của kiến trúc nhà cột 9,80m và vươn tiếp về phía Đông tới cổng (đã không còn) của khu đền thờ”[1].

✴️ Những phát hiện trên là nguồn cứ liệu góp phần khẳng định đường trục thần đạo của Pô Nagar: Cổng – Mandapa – các bậc cấp dẫn lên khu đền tháp – tháp Chính và khẳng định vị trí trung tâm của ngôi tháp thờ Mẹ xứ sở – Nữ thần Pô Nagar của vương quốc cổ Chăm pa.
Kiến trúc Mandapa có niên đại khoảng thế kỷ XI.

✴️ Theo sử sách và những kết quả khảo sát thực địa, khu đền tháp này có tất cả sáu đền tháp. Ngoài bốn đền tháp còn hiện hữu, còn có hai đền tháp ở khu vực phía sau, nhưng hiện nay chỉ còn nền móng của tháp cũ. Người Chăm gọi tháp là Kalan, dịch sang tiếng Việt nghĩa là đền, tháp.

✴️ Các tháp Chăm ở đây được xây dựng theo bình đồ hình vuông. Mỗi tháp đều có bốn cửa ở bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Ba cửa ở ba hướng tây, nam và bắc chỉ là những ô cửa giả. Riêng cửa phía đông được mở ra và kéo dài như một tiền sảnh.

✴️ ✴️ Tháp Đông Bắc
– Tháp Chính, tháp cao khoảng 23m. Theo các nhà nghiên cứu, niên đại của tháp Chính được xây dựng lần đầu tiên vào các năm 813 – 817 và trải qua những biến cố của lịch sử, tháp đã được xây dựng lại vào khoảng giữa thế kỷ XI.

– Trên thân tháp được trang trí bằng 5 hàng trụ áp tường chạy dọc. Bốn góc mái có bốn tháp nhỏ với 3 tầng mái thu nhỏ dần về phía trên. Hệ mái của tháp được ví như ngọn núi Mêru, nơi ở của các vị thần, với năm ngọn núi mà đỉnh ở giữa cao nhất. Trên hệ mái được trang trí những linh vật như: voi, ngỗng, dê… tiêu biểu cho quan niệm tôn giáo hết sức sinh động.

– Trên vòm cửa là tấm phù điêu bằng đá hình lá đề thể hiện thần Shiva với bốn cánh tay đang múa, hai bên có hai nhạc công thổi sáo, chân phải Shiva đặt trên lưng bò thần Nandin. Các nhân vật được thể hiện trong tấm lá đề với những động tác uyển chuyển, sinh động và rất duyên dáng. Phù điêu có niên đại thế kỷ XI và là một trong những tấm phù điêu đẹp nhất của văn hóa Chăm pa còn được lưu giữ ở Việt Nam.

– Trên những trụ đá ở cửa là những bia ký khắc chữ Sancrit và chữ Chăm cổ ghi chép về việc xây dựng đền tháp và cúng dường lễ vật của các vua, chúa và hoàng tộc Chăm lên Nữ thần và việc Nữ thần ban phúc lành cho muôn dân.
Trích dẫn một bia ký: Nữ thần của Kauthara, người có tấm thân rực sáng bởi vẻ đẹp và tấm choàng tuyệt hảo bằng vàng, người có khuôn mặt ngời sáng rạng rỡ và đẹp đẽ như đóa hoa sen và đôi má sáng chói bởi ánh sáng của ngọc ngà châu báu, đã luôn ban phước cho tất cả những ai quỳ xuống cầu nguyện trước mặt mình.

– Bên trong tháp là điện thờ hình vuông, chính giữa đặt tượng thờ Nữ thần Ponagar – là phần hồn của di tích. Đây cũng là tượng của Uma (vợ – biểu hiện âm tính của thần Shiva), đến thế kỷ XVII được người Việt tiếp tục gìn giữ và thờ Thiên Y Thánh Mẫu. Ảnh hưởng tín ngưỡng của người Việt nên tượng hiện nay được khoác xiêm y bên ngoài. Hai bên là ban thờ Cô và Cậu.

– Trong tháp, trên mỗi ô cửa giả có những hình tam giác nhỏ được khoét sâu vào tường. Đây là nơi đặt đèn dầu của đền thờ, bởi ngày xưa người Chăm chỉ thắp bằng đèn, trầm và cúng bằng nước… Do ảnh hưởng văn hóa tín ngưỡng của người Việt, nhang khói đã làm đen các bức tường của di tích.

✴️ ✴️ Tháp Nam:
– Tháp cao 18m, có quy mô lớn thứ hai trong toàn bộ tổng thể kiến trúc ở khu đền tháp Ponagar. Ngôi tháp có bộ mái tương đối lạ trong quần thể kiến trúc Tháp Bà. Phần đế và thân của tháp vẫn được xây theo mô típ tháp Chăm truyền thống song phần mái được thu gọn lại thành một tầng chóp, kéo dài lên phía trên, đỉnh đặt 01 trụ linga. Tháp có niên đại thế kỷ XIII.

Đây là nơi thờ thần Shiva. Theo truyền thuyết của người Việt gọi đây là tháp Ông, thờ chồng bà Thiên Y A Na.

✴️ ✴️ Tháp Đông Nam:
– Đây là ngôi tháp có quy mô nhỏ nhất. Tháp xây đơn giản, cao 7,1m và hình dáng bên ngoài đã bị hư hại nhiều. Mái xây hình yên ngựa (hình thuyền), hình dáng mái hình thuyền quen thuộc của những cư dân Đông Nam Á hải đảo. Đây có thể là kiến trúc phụ trong quần thể kiến trúc này và thuộc loại muộn, khoảng thế kỷ XI – XII. Tháp thờ thần Skandha – con thần Shiva là vị thần tượng trưng cho sức mạnh, chiến tranh. Theo truyền thuyết của người dân địa phương tháp thờ ông bà Tiều là cha mẹ nuôi của Thiên Y A Na Thánh Mẫu.

✴️ ✴️ Tháp Tây Bắc:
– Tháp cao 9m, là ngôi tháp duy nhất còn khá nguyên vẹn về kiến trúc và trang trí. Trên mỗi ô cửa giả đều có hoa văn trang trí hình các linh vật, được chạm trổ tinh xảo trên nền gạch nung. Trên ô cửa giả phía nam là hình ảnh chim thần Garuda, ô cửa giả phía bắc là hình ảnh thần Kala – vị thần thời gian, ô cửa giả phía tây là hình tượng nữ thần cưỡi voi. Tháp chỉ có một tầng và tầng mái cong mô phỏng hình chiếc thuyền, đầu hồi trang trí các mô típ lá đề mềm mại cong nhọn, uốn vào trong, phô ra hai trán nhà có chạm khắc một vị thần ngồi dưới tán của các đầu rắn Nagar. Đây là tháp thờ thần Ganesha – vị thần biểu tượng của may mắn, trí tuệ và hạnh phúc. Theo truyền thuyết của người dân địa phương, tháp thờ Cô, Cậu (con của bà Thiên Y A Na).

– Theo bia kí và khảo cổ học, tháp có niên đại xây dựng năm 817 song đã được trùng tu nhiều lần, nên niên đại cuối cùng khoảng thế kỷ XIII.

– Linh vật thờ ở trong các đền tháp Chăm là Linga và Yoni (một trong những biểu tượng thờ thần Shiva). Linga và Yoni là biểu tượng mong ước cầu cho con người và vạn vật luôn sinh sôi, nảy nở và phát triển để cuộc sống luôn no đủ, hạnh phúc, sum vầy.

✴️ ✴️ Bia ký:
– Bia ký cổ Chămpa tại Tháp Bà Pô Nagar có giá trị không nhỏ đối với các nhà nghiên cứu trong việc tìm hiểu lịch sử khu đền tháp này nói riêng, cũng như lịch sử, văn hoá và tôn giáo của vương quốc Chămpa nói chung. Hiện nay, theo tài liệu được biết ở Pô Nagar có 28 đơn vị minh văn; trong số đó có một số bia chưa dịch được nội dung.

– Phía sau Tháp chính có tấm bia do Phan Thanh Giản – một vị quan Thượng thư bộ Lễ dưới triều Nguyễn ghi chép, biên soạn và cho khắc vào năm 1856 (triều vua Tự Đức), bằng chữ Hán – Nôm nói về truyền thuyết Thiên Y A Na Thánh Mẫu của người Việt.

– Tấm bia thứ hai do 8 vị quan tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận lập năm 1871.

– Bên cạnh là tấm bia dựng vào năm 1972, nội dung dịch sang chữ quốc ngữ truyền thuyết bà Thiên Y A Na.

– Tấm bia đá thứ tư, giới thiệu về di tích Tháp Bà Ponagar được dựng vào năm 2010.

✴️ ✴️ Tín ngưỡng, tâm linh
– Trong tháp Chính, đặt tượng thờ nữ thần Ponagar. Theo bia ký, năm 918 tượng thờ được tạc bằng vàng, nhưng năm 950 bức tượng bị quân Khơme cướp đi. Mười lăm năm sau, tức năm 965 vua Sri Jaya Indravaman cho dựng lại pho tượng bằng đá như hiện nay, người Chăm tiếp tục thờ phụng Nữ thần. Đầu thế kỷ XX, người Pháp đã lấy đi đầu tượng và 02 tay. Hiện nay đầu pho tượng Mẫu được phục chế bằng gỗ.

– Năm 1653, vùng đất nay là tỉnh Khánh Hòa chính thức là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Và, sự cộng cư và hòa cư của người Việt với người Chăm cùng một số tộc người ở khu vực đã đánh dấu sự hình thành và phát triển một cách mạnh mẽ tín ngưỡng thờ Nữ thần, Mẫu thần của người Việt. Tín ngưỡng bản địa thờ Mẹ xứ sở của người Chăm đã được người Việt vào tiếp quản, Việt hóa để trở thành tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na của người Việt. Hình tượng của Bà, việc thờ phụng Bà đã kết tinh vào văn học, văn nghệ dân gian, vào đời sống tín ngưỡng tâm linh của người dân một cách sâu sắc và rộng rãi. Điều đó được khẳng định qua thời gian. Chỉ mới hơn 3 thế kỷ, tín ngưỡng này đã phát triển rộng khắp, bao trùm lên toàn bộ đời sống tinh thần của người Việt ở Khánh Hòa. Sự lan tỏa của tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na hết sức sâu rộng, có mặt trong cuộc sống hàng ngày của người dân Khánh Hòa hiện nay.

– Trong dân gian, Thiên Y A Na Thánh Mẫu không chỉ tồn tại, lưu truyền trong tâm thức nhân dân, lan tỏa, ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt, mưu sinh của nhân dân. Các vua triều Nguyễn đã nhiều lần ban sắc phong cho Thiên Y Thánh Mẫu ở Tháp Bà Pô Nagar và ở các miếu thờ, trong các làng quê Khánh Hòa, là Thượng đẳng thần với tên gọi Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi. Ngoài hệ thống miếu thờ Thiên Y A Na, trong các đình làng, chùa, người dân còn phối thờ Bà và coi như vị phúc thần của mảnh đất xứ Trầm hương.

✴️ ✴️ Kỹ thuật xây dựng
– Từ nhiều năm nay, kỹ thuật xây dựng các đền tháp Chăm và phương pháp chế tạo những viên gạch để xây các đền tháp được nhiều người quan tâm.Kỹ thuật xây dựng tháp Chăm hết sức độc đáo. Gạch xây tháp Chăm là gạch loại lớn (có kích thước 0,40m x 0,18m x 0,05m). Đặc điểm của gạch xây tháp là xốp, nhẹ, mềm, dễ tạo hình và không thấm nước nên hầu như không có hiện tượng rêu bám, mà các viên gạch chỉ bị bào mòn theo thời gian, phô ra lõi màu đen, thể hiện những viên gạch được nung ở nhiệt độ cao. Trong khi đó, các viên gạch chúng ta sử dụng trùng tu nặng hơn, dễ thấm nước và giữ nước, tạo môi trường cho thực vật ký sinh dễ sinh sôi, phát triển, như: rêu, dương xỉ… Vì vậy, câu hỏi: Người Chăm đã sản xuất gạch xây dựng tháp như thế nào? Đó là câu hỏi còn bị bỏ ngỏ.

– Cách xây dựng các tháp Chăm như thế nào? Đây cũng là câu hỏi khiến các nhà nghiên cứu văn hóa Chămpa dày công tìm hiểu và thử nghiệm. Có ý kiến cho rằng người Chăm xưa chồng các viên gạch lên thành tháp, sau đó nung để gạch chín và kết dính với nhau. Ý kiến này không được nhiều người đồng ý. Bởi theo nghiên cứu, các ngôi tháp có tường rất dày, có khi dày một đến hai mét, nhưng nhiệt độ nung của các viên gạch khá đều nhau. Vì vậy, các nhà khoa học cho rằng: Người Chăm xưa nung gạch rồi mới đem xây dựng các đền tháp, sau đó mới chạm trổ hoa văn trên tường, gạch mà dấu vết chạm trổ dang dở còn được lưu giữ ở Mỹ Sơn (Quảng Nam) và Dương Long (Bình Định). Việc hiểu biết về phương thức nung gạch và kỹ thuật xây dựng tháp Chăm là một đòi hỏi cấp thiết hiện nay. “Cần phải có sự hiểu biết sâu sắc về vật liệu cũng như kỹ thuật xây dựng đặc biệt trước khi thiết kế tu bổ, tránh sự không tương thích để kéo dài tuổi thọ cho vật liệu và kết cấu tháp”[2].

– Thật ra giữa các viên gạch xây dựng tháp Chăm vẫn có một lớp kết dính rất mỏng. Các chuyên gia Ba Lan sau khi phân tích cơ lý, thành phần hóa, thành phần khoáng đã cho rằng gạch được nung trước khi xây tháp, chất liệu thu được giữa hai viên gạch còn dính nhau, không giống với chất viên gạch[3]. Vậy chất kết dính đó là gì? Điều đó đã khiến các học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về đền tháp Chăm mải miết đi tìm câu trả lời. Tìm hiểu ở hậu duệ của người Chăm cũng chưa có câu trả lời xác đáng vì họ cũng không nhớ tổ tiên mình xây dựng các đền tháp như thế nào. Ngay từ đầu thế kỷ XX, H.Parmentier đã cho rằng người Chăm xây tháp bằng một loại chất kết dính thực vật với mạch xây rất mảnh như dán các viên gạch với nhau. Qua những nghiên cứu, phân tích, thử nghiệm, ngày nay các nhà khoa học cho rằng: Có thể ngày xưa người Chăm dùng nhựa thực vật, là những loại cây có sẵn ở vùng đất này, như: cây bời lời hoặc cây dầu rái để làm chất kết dính các viên gạch xây đền tháp (loại cây có nhiều ở miền Trung và Tây Nguyên, ngày nay vẫn được sử dụng trong đời sống như: dùng để trát thuyền thúng…), hay có thể sử dụng mật mía trộn với nước cây xương rồng nghiền nát tạo nên chất kết dính[4].

– Cho đến nay, dù có nhiều lý giải khác nhau, nhưng cách thức sản xuất gạch, chất liệu gạch, chất liên kết, kỹ thuật xây dựng tháp Chăm vẫn là điều bí ẩn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, kiến trúc sư, du khách trong và ngoài nước.

✴️ ✴️ Quá trình trùng tu
– Các công trình kiến trúc ở đây đã trải qua hơn nghìn năm và chịu nhiều sự tác động của tự nhiên và con người, của chiến tranh. Từ đầu thế kỷ XX đến nay, Tháp Bà Ponagar đã trải qua một số lần trùng tu tôn tạo. Lần thứ nhất người Pháp tu bổ vào những năm 30 của thế kỷ XX. Dấu ấn rõ nhất của đợt tu bổ này là những chỗ gạch trát xi măng. Sau đó, những năm 90 của thế kỷ XX, chúng ta đã tiếp tục tu bổ để bảo tồn những ngôi tháp cổ. Lần tu bổ gần đây nhất là năm 2010 ở tháp Nam.

– Di tích luôn được quan tâm bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; công tác tu bổ được thực hiện thường xuyên và trở thành trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên, nhất là mỗi dịp Lễ hội Tháp Bà Ponagar diễn ra từ ngày 21 đến 23 tháng 3 âm lịch hàng năm khách hành hương về dự lễ rất đông. Lễ hội Tháp Bà Ponagar được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia năm 2012.

– Khu di tích Tháp Bà ở Nha Trang chính là điểm hội tụ các giá trị truyền thống của qúa trình giao lưu Việt – Chăm trong lịch sử, là biểu tượng của sự đoàn kết dân tộc, góp phần làm nên các yếu tố cố kết cộng đồng của các dân tộc Việt Nam hôm nay và điểm đến không thể thiếu của mỗi du khách khi đến Nha Trang – Khánh Hòa.

Hoàng Quý

THÀNH CỔ DIÊN KHÁNHDi sản văn hóa quốc gia     ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ Từ thành phố Nha Trang, đi đường 23/10 đến thị tr...
26/05/2019

THÀNH CỔ DIÊN KHÁNH
Di sản văn hóa quốc gia
✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️

Từ thành phố Nha Trang, đi đường 23/10 đến thị trấn Diên Khánh, rẽ phải vào đường Lý Tự Trọng, đi khoảng 500m là đến cổng Đông của Thành Diên Khánh.

✴️ Thành Diên Khánh là tòa thành được xây dựng ở phủ Diên Khánh, còn là cơ quan hành chính của địa phương dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn. Ngày nay, một phần tòa thành tên gọi cũ vẫn còn nhưng chức năng đã ít nhiều thay đổi.

✴️ Ngược dòng lịch sử, những dòng người di cư đến miền đất mới thường chọn nơi định cư ở cạnh những dòng sông, con suối để thuận tiện trong sinh hoạt, trồng trọt và chăn nuôi. Người Việt đến vùng đất dinh Thái Khang (sau này là dinh Bình Hòa hay tỉnh Khánh Hòa) chủ yếu định cư ở những vùng đồng bằng do các con sông lớn tạo thành là sông Dinh (Ninh Hòa), sông Cái (Nha Trang, Diên Khánh). Đồng thời với quá trình di dân khẩn hoang, lập làng, các chúa Nguyễn cũng xây dựng các thiết chế về chính trị khá vững vàng, đầy đủ từ dinh, phủ đến thôn, sách cùng đội ngũ quan lại, nha sai quản lý, điều hành các công việc của nhà nước phong kiến. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, các chúa Nguyễn và một số quan lại bảo thủ trong các chính sách kinh tế – xã hội và có lối sống hưởng thụ xa hoa. Để đáp ứng nhu cầu, chúng tăng thuế khóa, quan lại tranh nhau vơ vét bóc lột của nhân dân, khiến cho cuộc sống muôn dân đói khổ, cơ cực.

✴️ Năm 1771, khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ lãnh đạo chống lại ách thống trị của chúa Nguyễn. Chính sách cai trị hà khắc của chúa Nguyễn đã khiến nhân dân Diên Khánh tham gia ủng hộ phong trào Tây Sơn. Từ năm 1773 đến năm 1792, nhân dân Diên Khánh yên ổn làm ăn dưới triều đại Tây Sơn.

✴️ Năm 1775, sau khi đánh bại quân của Tống Phúc Hiệp và Nguyễn Khoa Thuyên ở núi Tam Phong (đèo Cổ Mã, xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh), để tăng cường bảo vệ ở phía Nam và biến đây thành căn cứ quan trọng trong các cuộc tấn công vào Gia Định, quân Tây Sơn đã xây dựng ở Khánh Hòa nhiều đồn trại, thành lũy như: đồi Trại Thủy, khu Thủy Xưởng (Nha Trang), Hoa Châu (Diên Khánh), Du Lâm (Ba Ngòi), pháo đài Ninh Hải, đồn Hòn Khói (Ninh Hòa), Tam Độc, Sơn Tập (Vạn Ninh)…

✴️ Năm 1792, vua Quang Trung băng hà, nội bộ nhà Tây Sơn lủng củng, quân Nguyễn Ánh nhân cơ hội này ra sức phản công nhằm lập lại triều đại. Tháng 3 năm Quý Sửu, Nguyễn Ánh đem bộ binh đánh Phan Rí. “Đến tháng 5 thì thuyền của Nguyễn Vương vào cửa bể Nha Trang rồi lên đánh lấy phủ Diên Khánh và phủ Bình Khang”[1]. Đến tháng 7, quân Nguyễn Ánh đã chiếm được hai phủ Diên Khánh và Bình Khang. Sau khi xem xét phủ sở Diên Khánh, Nguyễn Ánh thấy đây là một vị trí chiến lược, với vị trí giao thông thuận tiện đường thủy (sông Cái) và đường bộ từ Bắc vào Nam, lại gần cửa biển Nha Trang, nên đã cho xây dựng thành Diên Khánh làm căn cứ quân sự kiên cố để chiến đấu lâu dài với quân Tây Sơn.

✴️ Nguyễn Ánh (sau này là vua Gia Long) đã cho xây Thành Diên Khánh thuộc địa phận hai xã Phú Mỹ và Trường Thạnh, huyện Phước Điền, phủ Diên Khánh, dinh Bình Khang, giao cho Nguyễn Văn Thành trấn thủ. Sau đó, ông cho dời lỵ sở của dinh cũ từ xã Phước Đa, huyện Quảng Phước, phủ Bình Khang về Thành Diên Khánh và đây trở thành trung tâm chính trị, quân sự của dinh Bình Khang.

✴️ Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn viết về Thành tỉnh Khánh Hòa:
Chu vi 636 trượng 7 thước 4 tấc, cao 7 thước 5 tấc, mở 4 cửa, hào rộng 4 trượng, sâu 6 thước, xây bằng đất ở địa phận hai xã Phú Mỹ và Phúc Thịnh huyện Phúc Điền. Trước kia lỵ sở của dinh ở địa phận xã Đa Phúc huyện Quảng Phúc, sau dời đến chỗ hiện nay, tức là thành Diên Khánh cũ – Xét: Thành Diên Khánh trước là thủ sở Nha Trang, năm Quý Sửu (1793) quân nhà vua tiến đánh Quy Nhơn, lúc trở về, xa giá dừng ở Diên Khánh, xem xét thế đất, sau nhân bảo cũ Hoa Bông đắp thành bằng đất. Thành mở sáu cửa, đều có nhà lầu, bốn góc thành có núi đất, ngoài thành đào hào, ngoài hào có trại; các cửa đều có cầu treo để qua hào, trước sau có núi sông bao bọc, thật là nơi thiên hiểm, nay bỏ bớt hai cửa. Pháo đài và núi đất vẫn còn, phía bắc thành dựa lưng vào sông cái, thường bị nước lũ xói vào nên năm Minh Mệnh thứ 4 đắp đê chắn ngang sông, lại đào cừ để dẫn nước về phía bắc.[2]
✴️ Theo Phương Đình dư địa chí: “Năm Quý Sửu vua Thế tổ Cao Hoàng đế lấy lại đất ấy vẫn gọi là Bình Khang doanh (đặt chức thỉ lưu, cai bạ, ký lục) lại đắp thành Diên Khánh ở thú sở Nha Trang, núi sông thật là thiên hiểm, tục gọi là Nha Trang thành”[3]

✴️ Tư liệu lịch sử khác còn ghi lại, thành Diên Khánh do Hoàng tử Cảnh trực tiếp trông coi việc xây dựng, nhân lực để đắp thành gồm 3.000 quân Bình Thuận, 100 dân Thuận Thành và trong hơn một tháng thì xong. Thành Diên Khánh là nơi tích trữ lương tiền ở Gia Định, Bình Thuận chở ra để dùng cho quân đội bắc phạt nên nhiều lần bị quân Tây Sơn vào đánh.[4]

* Thành Diên Khánh xưa:
Lúc xây dựng, thành được xây trên khu đất trống, có hình dáng nhô cao như lưng con rùa là linh vật tượng trưng cho sự trường tồn, vững chãi. Phía ngoài là hệ thống hào sâu. Phía trong có hai bậc thang dùng làm đường lên xuống. Các góc Thành được đắp nhô ra ngoài để dễ dàng quan sát hai bên. Bên trong mỗi góc được đắp thành một khoảng đất rộng dùng làm chỗ trú quân. Mỗi góc thành đều đắp một ụ đất cao khoảng 2m để đặt súng đại bác, gọi là pháo đài góc. Đây là đặc điểm nổi bật của kiến trúc quân sự theo kiểu Vauban. Trên thành được trồng nhiều tre, cây có g*i để tăng độ bền của thành và tạo thành một hàng rào phòng ngự theo truyền thống của người Việt. Hệ thống hào bên ngoài thành sâu từ 3m đến 5m, rộng hẹp không đều nhau tùy theo địa hình. Dưới lòng hào thường xuyên có nước và có nhiều chướng ngại vật. Phía ngoài hào có đường hào ngoại. Vào trong thành phải đi qua cầu bắc qua hào nước.

✴️ Tường thành chạy uốn khúc theo hình lục giác, dài khoảng 2.694m, xây cao chừng 3,5m. Mặt ngoài Thành được đắp hơi thẳng đứng, mặt trong được đắp thoai thoải, hai bên cổng có các bậc thang dùng làm đường lên xuống.

✴️ Mỗi cổng có xây vọng lâu để lính canh nhìn được ra xa. Trong góc đắp các ụ đất cao để đặt súng đại bác phòng thủ, phía ngoài sát chân thành có hào nước bảo vệ, ngoài hào là trại lính, trước mỗi cổng có cầu vòm sắt bắc qua để vào trong.

✴️ Theo nội các triều Nguyễn, thành Diên Khánh được xây dựng năm Gia Long thứ 13 (1814) từ Phú Đa đến Phú Mỹ và Phước Thạnh (hoặc Trường Thạnh). Thành mới có hình dạng đa giác không đều (con rùa), với chu vi 2.679,83m, cao 3,39m, hào nước 19,08m. Lần này chỉ có bốn cổng ở bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc.
Năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) hai cửa Tả, Hữu đã bị lấp chỉ còn lại bốn cửa Đông, Tây, Tiền, Hậu. Hai bên các cổng có xây bậc cấp để lên mặt thành. Phía trên cổng thành có lầu tứ giác, mái uốn cong, lợp ngói âm dương.

* Thành Diên Khánh ngày nay:
Bốn cổng Thành xây giống nhau. Cổng Thành không có hoa văn trang trí cầu kỳ mà chỉ ghi tên từng cổng bằng chữ Hán: Đông môn (門 東), Tây môn (門 西), Tiền môn (門 前), Hậu môn (門 后). Các cổng được xây bằng gạch nung cỡ 4,5cm x 14cm x 28cm, trát vôi vữa, tạo thành một hình khối dài khoảng 15m. Vòm cuốn ở giữa rộng 2,88m, cao 2,44m tạo thành lối đi phía dưới.

✴️ Mặt ngoài Thành xây thẳng đứng, mặt trong xây tường gạch cao 1,7m, dài 5m. Đường đi trên bờ thành rộng 5,35m.
Hai bên các cổng xây bậc cấp rộng 3m để đi lên phía trên cổng Thành. Phía trên cổng Thành xây lầu tứ giác với mỗi cạnh 3,30m; bốn cửa ở bốn hướng rộng 1,30m, cao 2,5m; trên cùng là cổ lầu có mái uốn cong lợp ngói âm dương. Cổ lầu cao 4,1m so với nền. Hai bên lầu tứ giác được xây lan can cao 0,85cm.

✴️ Nối liền với bốn cổng là hệ thống tường thành đắp bằng đất thoai thoải phía bên trong, hơi thẳng đứng phía bên ngoài. Các đoạn tường thàng bằng đất không còn nối liền mạch như xưa; tổng chiều dài tường thành bằng đất hiện nay dài 1.656m, cao 3m, bề mặt rộng 5m.

Hàng ngày nhân dân vẫn đi qua dưới các cổng Thành, ngoại trừ cổng Hậu nằm phía sau trường Mẫu giáo của thị trấn Diên Khánh.

✴️ Bên trong Thành: Thành Diên Khánh tuy cấu trúc xây dựng theo kiểu Vauban được thể hiện rõ ở tường thành với hệ thống pháo đài đường ngoài hào, nhưng cổng thành và các dinh thự xây cất trong Thành vẫn theo đặc điểm kiến trúc truyền thống của phương Đông. Theo một số tư liệu, trước đây có các công trình kiến trúc như: Hoàng cung, dinh Tuần vũ, Án sát, Lãnh binh, kho lương, nhà lao. .. được làm theo quy định của triều đình nhà Nguyễn và xây dựng theo kiểu kiến trúc nhà cửa của Việt Nam.

✴️ Trong khu vực đơn vị Trung đoàn 974 hiện vẫn còn một khẩu pháo thần công nằm trên bệ pháo. Khẩu pháo được đặt trên bãi đất trống phía trước cổng Trung đoàn. Ngoài ra, ở đây còn có một ngôi miếu bị bỏ hoang. Sách “Đồng Khánh Dư địa chí lược”, phần “Từ miếu” của Khánh Hòa có ghi “Trong Thành của tỉnh có Thiên Y từ Thiên Y Thánh Nương”[5]. Hiện nay, ngôi miếu chỉ còn bốn bức tường và phía trên có dòng chữ Hán trong cuốn thư “Thánh Phi Miếu”, Bảo Đại năm thứ 6 (1931). Trong “Xứ Trầm Hương” của Quách Tấn có nhắc đến truyền thuyết về ngôi miếu Ba Cô, nhưng ngày nay ngôi miếu cũng không còn tồn tại. Sau khi khảo sát, tìm hiểu, chúng tôi phát hiện còn một góc tường của ngôi miếu nằm ở phía sau khu vực đóng quân Trung đoàn 974 (thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Khánh Hòa) và đã bị cây mọc bao phủ.

✴️ Hiện nay, trong Thành là trụ sở các cơ quan của huyện Diên Khánh như: Huyện ủy Diên Khánh, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh, Liên đoàn lao động, … và các trường học: THCS Phan Chu Trinh, Tiểu học thị trấn Diên Khánh, Mầm non Hoa Phượng … cùng một số tổ dân phố của thị trấn Diên Khánh.

* Một số sự kiện lịch sử tiêu biểu diễn ra ở Thành Diên Khánh:
1.Những trận giao chiến giữa quân Tây Sơn và quân nhà Nguyễn cuối thế kỷ XVIII;
2.Là trung tâm đầu não của phong trào Cần Vương ở Khánh Hoà do Trịnh Phong chỉ huy (1885-1886);
3.Là nơi giam giữ nhà chí sỹ yêu nước Trần Quý Cáp trong những ngày cuối cuộc đời của ông (1908);
4.Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền Cách mạng, tháng Tám năm 1945 và lễ ra mắt Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời phủ Diên Khánh;
5.Tháng Giêng năm 1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp truyền đạt chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” của Trung ương và chuyển lời thăm hỏi, khen ngợi của Bác Hồ về tinh thần chiến đấu của đồng bào Nha Trang – Khánh Hòa.

✴️ Cùng với sự bào mòn của thời gian, tòa Thành đã bị rêu phong và xói mòn mất nhiều đoạn tường đất, hào thành. Năm 2003, Thành Diên Khánh đã được trùng tu, sơn sửa bốn cổng, gia cố những nơi bị nứt tường giột nước mưa và một số đoạn tường thành. Năm 2010, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hoà tiến hành dự án tu bổ Thành Diên Khánh và khoanh vùng các khu vực bảo vệ nhằm tôn tạo và phát huy giá trị di tích.

✴️ Ghi nhận những giá trị lịch sử, văn hóa của di tích Thành cổ Diên Khánh, ngày 16/11/1988, Bộ Văn hóa ban hành quyết định số 1288/VH-QĐ xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa Quốc gia.

Nguyễn Thị Hồng Tâm

ĐỊA ĐIỂM DI CHỈ KHẢO CỔ HÒA DIÊMDi sản văn hóa quốc gia✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️Di tích địa điểm di chỉ khảo cổ học ...
26/05/2019

ĐỊA ĐIỂM DI CHỈ KHẢO CỔ HÒA DIÊM
Di sản văn hóa quốc gia
✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️ ✴️

Di tích địa điểm di chỉ khảo cổ học Hòa Diêm thuộc thôn Hòa Sơn, xã Cam Thịnh Đông, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, cách Trung tâm thành phố Cam Ranh khoảng 5 km về phía nam.

✴️ Di tích có toạ độ địa lý 11053’14.77” độ vĩ Bắc và 109006’35.14” độ kinh Đông, phân bố trên một cồn cát ven vịnh biển có độ cao khoảng 4m so với mặt nước biển. Khu vực phân bố di tích chủ yếu nằm tập trung ở xung quanh đình Hoà Diêm cũ (hiện nay đã di dời) và trên đất trồng hoa màu của người dân địa phương. Cũng bởi trên khu vực di chỉ còn tồn tại một ngôi đình cũ nên di chỉ còn được gọi với tên Hoà Diêm Đình hay Đình Hoà Diêm để phân biệt với các di chỉ được phát hiện ở thời gian sau này.

✴️ Hoà Diêm là di tích nằm trên cồn cát cao, cuộc sống phụ thuộc vào nguồn n­ước ngọt cuả con sông Tà L­ưa và các bàu nước xung quanh vịnh Cam Ranh. Vì ở sát biển nên thức ăn chủ yếu dựa vào nguồn thức ăn biển như sò, ốc, hàu, cá… là “Văn hoá cồn sò điệp” tích tụ trong tầng văn hoá dày đặc vỏ nhuyễn thể biển; thêm nữa các vết tích xương, răng động vật từ Biển – Núi là thức ăn chính của cư dân ở đây.

✴️ Di chỉ được phát hiện vào tháng 2/1998, do đoàn nghiên cứu của Viện Khảo cổ học đi khảo sát các di tích thuộc văn hóa Chămpa ở ba tỉnh Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận). Trong đợt điền dã, đoàn đến thôn Hòa Diêm (nay là thôn Hòa Sơn), đã phát hiện một số mảnh gốm, vết tích đầu tiên của địa điểm khảo cổ học. Những năm sau đó (1999, 2002, 2007, 2010, 2011), Bảo tàng tỉnh thường xuyên phối hợp với Bảo tàng Quốc Gia, Viện Khảo cổ học, Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ, Bảo tàng Nhân học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Đại học Waseda – Nhật Bản, tiến hành thám sát, khai quật, nghiên cứu di chỉ.

✴️ Căn cứ vào cuộc khai quật và kết hợp với kết quả của các đợt điều tra thám sát trước đó, các nhà khoa học nhận định: qua địa tầng di tích và di vật cho thấy Hoà Diêm là một di chỉ cư trú, đồng thời là khu mộ táng gồm nhiều loại hình mộ khác nhau mà mộ chum hình cầu là tiêu biểu nhất. Di chỉ cư trú phân bố trên một diện tích khá rộng, địa tầng của các hố đào đã thể hiện điều đó, có khu vực còn giữ lại vỏ nhuyễn thể, có nơi không có nhuyễn thể.

✴️ Nét đặc tr­ưng của di tích Hoà Diêm là khu mộ táng sát ngay trong khu cư­ trú. Mộ táng nằm ngay trong tầng văn hoá. Đặc điểm ở đây mộ táng chỉ thấy loại hình cầu, ch­ưa thấy loại hình trụ, hình thức chôn có thể phân thành từng cụm; có cụm mộ chum đơn lẻ; có cụm hai chum úp nhau chôn thẳng đứng, có loại nắp chum là kiểu giống­ bát mâm bồng, trong chum hầu hết chôn xương cốt với các hình thức mai táng một hay nhiều tử thi trong một chum. Có nhiều loại hình mộ khác nhau, đặc biệt các đồ tuỳ táng chôn theo gần giống với cách sắp xếp trong mộ chum văn hóa Sa Huỳnh với các di vật nh­ư đồ gốm, đồ sắt, đồ trang sức bằng đá mã não, hạt chuỗi bằng đá quý, thuỷ tinh, kim loại màu vàng.

✴️ Hầu hết mộ chum chôn trong tư thế thẳng đứng, không có dấu hiệu của việc chôn thành từng cụm hoặc hiện tượng song táng nhưng có hiện tượng mộ cắt phá nhau. Điều đó cho thấy khu di tích Hòa Diêm có nhiều giai đoạn dù rằng diễn tiến các giai đoạn này cách nhau rất ngắn.

✴️ Loại hình chum được sử dụng để chôn cũng khá đa dạng – phổ biến là chum hình cầu miệng khum, đường kính miệng hẹp, không có nắp, được ghè mép tạo nên miệng rộng hơn có lẽ để dễ dàng đưa di cốt người vào trong lòng chum. Bên cạnh đó còn có các loại hình chum khác – có thể lần đầu tiên các nhà khảo cổ học khai quật trong di tích có táng tục chum vò – đó là loại chum hình con tiện được trang trí hoa văn hình học rất phức tạp về cấu trúc, tinh tế với các đường nét và với một trình độ mỹ thuật cao trên bề mặt được tô màu và miết láng những vùng không trang trí văn, chum có nắp, nắp có núm cầm và trang trí hoa văn vẽ màu nâu đỏ. Tất cả những yếu tố trên tạo cho chum có một cấu trúc hài hòa, độc đáo và duy nhất chỉ có trong các di tích khảo cổ học ở Việt Nam có táng tục chum vò.

✴️ Qua diễn biến của di vật, cho thấy tầng văn hoá chỉ có một lớp. Tuy nhiên, về di tích có mộ chôn cùng trong tầng văn hoá nên có cơ sở để khẳng định mộ trong di chỉ có niên đại muộn hơn. Trên bề mặt tầng văn hoá lác đác có mảnh gốm ở những giai đoạn muộn hơn tuy không tạo thành lớp văn hoá nh­ưng cũng cho thấy toàn bộ di tích đã tồn tại trong khoảng thời gian dài.

✴️ Về không gian môi tr­ường, Hoà Diêm là khu vực có nhiều yếu tố thuận lợi cho các lớp cư­ dân sinh sống, địa thế trước biển – sau núi, có nguồn n­ước ngọt từ sông, suối trên cao nguyên đổ xuống hình thành đồng bằng ven biển ở vùng vịnh Cam Ranh thuận lợi cho sự giao l­ưu trao đổi với các nền văn hoá khác qua đ­ường thuỷ và đ­ường bộ.

✴️ Về di vật, các cuộc khai quật đã thu đ­ược hàng vạn tiêu bản gồm các chất liệu khác nhau như:­ đồ đá, đồ gốm, xương, công cụ bằng vỏ nhuyễn thể, mộ chum, đồ trang sức… đã cho thấy Hoà Diêm ở giai đoạn này khá phồn thịnh. Các loại bình, nồi, bát bồng, âu… với nhiều kiểu dáng khác nhau, có trang trí hoa văn và không hoa văn, có những kiểu dáng tiếp thu và bảo l­ưu của giai đoạn trước có loại mang đặc điểm riêng biệt của Hoà Diêm. Mô típ trang trí là gọt (nạo) trên gờ vai các hình elíp đơn, đôi, ba, bên cạnh hoạ tiết in ấn bằng que nhiều răng đầu hình chữ nhật, vuông, tam giác, in mép sò với các bố cục khác nhau đã chứng tỏ sự sáng tạo của cư dân cổ Hoà Diêm thật phong phú.

✴️ Từ các kết quả nghiên cứu khai quật cho biết Hòa Diêm là di chỉ cư trú – mộ táng có niên đại từ sớm đến muộn, nhưng sự phân bố của các vết tích cư trú không trải rộng mà nằm tập trung thành các khu vực nhất định trong di chỉ [1]. Kết quả khai quật các đợt sau một lần nữa khẳng định niên đại của di tích khoảng trên dưới 2.000 năm cách ngày nay với phát hiện hai đồng tiền Ngũ Thù (Hán) trong mộ M6, cho thấy khu mộ Hòa Diêm có niên đại sớm nhất là tương đương khoảng thế kỷ I trước Công nguyên đến thế kỷ II. Niên đại này tương đương với văn hóa Sa Huỳnh muộn.

✴️ Tư liệu khai quật cho thấy Hoà Diêm là một mắt xích, một cầu nối quan trọng trong việc nghiên cứu tình hình phát triển văn hoá khảo cổ ở Khánh Hòa nói riêng và Miền trung Việt Nam nói chung. Với đặc trưng của di tích Hoà Diêm qua các loại hình di tích, di chỉ, mộ táng, di vật…. cho thấy quá trình phát triển của cư­ dân cổ Khánh Hoà thời Tiền – Sơ sử nhất là trong giai đoạn có sự giao thoa, hỗn dung, trao đổi mạnh mẽ của văn hoá của nhiều chủng tộc trong giai đoạn này. Thông qua di tích Hoà Diêm cho phép ta phần nào nhận biết được sự chuyển tiếp từ văn hoá Sa Huỳnh lên văn hoá Chăm Pa ở một địa phương, khu vực nhất định.

✴️ Qua nghiên cứu, đối chiếu, so sánh cho thấy: di tích và di vật ở Hòa Diêm không chỉ độc đáo mà còn thể hiện sự giao lưu văn hóa rộng rãi. Trước hết là đối với Việt Nam đó là sự tương đồng giữa chum táng nhóm 2 ở đây với những chum táng ở vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt là với di chỉ Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt. Ngoài ra, gốm Hòa Diêm còn thể hiện những nét tương đồng với một số địa điểm ở Đông Nam Á. Ngoài những đặc trưng, phong cách riêng thể hiện nổi bật một giai đoạn Hòa Diêm tiêu biểu, Di tích Hòa Diêm còn có những mối quan hệ rộng hơn, là sợi dây lịch sử liên kết với các di chỉ khác trong tỉnh, khu vực Nam Trung Bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên và khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, hiện tại chỉ có thể nói rằng, những nét tương đồng này mới chỉ là những dấu hiệu cho thấy có thể đã có một sự giao lưu đơn thuần giữa Hòa Diêm và các vùng khác chứ chưa thể nói lên sự giao lưu ấy diễn ra theo chiều nào, (nơi nào là nơi tạo ảnh hưởng, nơi nào là nơi chịu ảnh hưởng).

✴️ Di tích Địa điểm di chỉ khảo cổ học Hòa Diêm có niên đại nằm trong khoảng từ thế kỷ V – IV trước Công nguyên đến thế kỷ I – II sau Công nguyên, đặc biệt có giá trị về mặt khoa học, thẩm mỹ, chứa đựng những nét đặc trưng về khu cư trú của cư dân thời Tiền – Sơ sử, cũng như hình thức mộ táng của những cư dân sinh sống ở đây. Di tích còn thể hiện rõ không gian văn hóa Cồn Bàu rất đặc trưng của khu vực Nam Trung Bộ. Những hiện vật khai quật được ở di chỉ như: Vỏ nhuyễn thể, mộ chum, đồ gốm tùy táng, đồ sắt tùy táng, các hạt chuỗi thủy tinh, đá, lục lạc đồng, vòng đồng, bếp lửa, mảnh gốm, xương động vật, vỏ sò, công cụ lao động… đã phần nào hé mở những thông tin về cuộc sống của cư dân cổ Hòa Diêm, cũng như nghi thức mai táng của họ.

✴️ Năm 2014, di tích được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hang di tích Quốc gia tại quyết định số 4108/QĐ-BVHTTDL ngày 12/12/2014. Đây là di tích khảo cổ đầu tiên và duy nhất hiện nay được xếp hạng di tích cấp quốc gia ở Khánh hòa. Vì vậy trong những năm tới di tích rất cần sự quan tâm của nhân dân, các ngành, các cấp, các nhà chuyên môn trong công tác bảo tồn, gìn giữ phát huy giá trị để phục vụ phát triền kinh tế du lịch ở địa phương. Điều đó sẽ góp phần biến nơi đây thành một điểm tham quan, nghiên cứu, học tập hấp dẫn về văn hóa Tiền – Sơ sử ở Khánh Hòa.

Nguyễn Chí Khải

Address

Ninh Hòa
57000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Khánh Hòa Quê Tôi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Khánh Hòa Quê Tôi:

Share

Category